Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Tiếng Việt của người Việt

Thế Nào Là Tiếng Việt Trong Sáng?
 
Chữ viết và tiếng nói là phương tiện truyền đạt giữa con người và con người. Loài vật chắc cũng có tiếng nói qua những âm thanh như: hót, kêu, gầm, hú, sủa… để truyền đạt cho nhau nhưng loài vật không có chữ viết. Con người do trí thông minh, do bản năng tiến hóa, lại có ý thức, sau khi sáng tạo ra chữ viết, lần hồi biết tổng hợp, gọt giũa để biến thành văn chương. Còn tiếng nói cũng cải tiến không ngừng. Ngôn ngữ đi như bóng với hình với văn chương, từ thô thiển trở thành thanh tao, từ thẳng thừng trở nên bóng bẩy, từ thô lỗ trở nên ý nhị. Có thể nói văn chương càng phát triển bao nhiêu thì ngôn ngữ càng đẹp bấy nhiêu. Tư tưởng càng phát triển bao nhiêu thì văn chương và ngôn ngữ càng phong phú bấy nhiêu.
Thế nhưng muốn nắm bắt được tinh hoa ngôn ngữ của dân tộc dứt khoát là phải có giáo dục. Một đứa trẻ không được đi học vẫn nói được, nói liến thoắng đủ điều nhưng không viết được và chắc chắn ngôn ngữ rất nghèo nàn và thường mang âm hưởng “chợ đời” chứ không có những ngôn từ của một đứa trẻ được cắp sách đến trường mà ngày xưa gọi là “cửa Khổng sân Trình”. Không những phải học hết Lớp 12 phổ thông mà còn phải bước lên đại học nữa. Một người không thế có tiếng Việt phong phú nếu không học qua các bộ môn như lịch sử, triết học, tôn giáo, luật học, kinh tế học, tâm lý học, chính trị học, xã hội học, nhân chủng học, khảo cổ học, kiến thức về quân sự, ngoại giao... và ít nhất cũng phải biết qua các tác phẩm văn chương lớn của đất nước - cổ cũng như kim. Chỉ cần dành chút ít thời giờ đọc và nhớ ba tác phẩm như Kiều, Cung Oán Ngâm Khúc và Chinh Phụ Ngâm thôi thỉ vốn Việt Ngữ của chúng ta cũng đã phong phú thêm biết là bao nhiêu.
Viết thì ai cũng có thể viết được. Nói thì ai cũng nói được nhưng xin nhớ cho trong bất kỳ quốc gia nào cũng có hai loại: Ngôn ngữ thượng lưu và ngôn ngữ bình dân; văn chương bác học và chương bình dân.
-Ngôn ngữ thượng lưu là lời nói văn vẻ, ý nhị, nhẹ nhàng, lễ  độ, dễ nghe, thâm thúy. Còn ngôn ngữ bình dân không phải là xấu, chân tình nhưng mộc mạc, thường thì cọc cằn, thô lỗ và không giữ gìn ý tứ.
-Văn chương bác học là văn chương cầu kỳ, gọt giũa, xử dụng nhiều ẩn dụ, điển tích. Còn văn chương bình dân không cầu kỳ, nghe là hiểu ngay không cần phải suy nghĩ nhiều. Có một điểm chung là dù loại văn chương hay ngôn ngữ nào đi nữa thì nó cũng phải trong sáng, thông dụng và dễ hiểu.
Theo dòng lịch sử, dân tộc ta đã tiếp nhận nhiều nền văn hóa bên ngoài du nhập vào. Trải qua 1000 năm Bắc Thuộc, tổ tiên chúng ta đã không để mất gốc - mà Việt hóa tinh hoa của học thuật, ngôn ngữ Trung Hoa, biến nó thành tiếng Hán-Việt khiến tiếng Việt trở nên phong phú. Rồi thì 100 thuộc Pháp, cha ông chúng ta cũng không để tiếng Việt bị lai căng. Dựa vào tinh hoa của nền văn chương Pháp, từ đó giản dị hóa, trong sáng hóa tiếng Việt. Còn ngày hôm nay, văn hóa Mỹ không vào Việt Nam bằng các tác phẩm văn chương, học thuật mà bằng đồng đô-la, Cola Cola, trò chơi (Games), phim ảnh gợi tình, bạo lực và bắn giết. Sách vở du nhập vào không phải là các tác phẩm văn học, học thuật tư tưởng lớn mà là các tạp chí về sắc đẹp, thời trang, son phấn, nước hoa, quần áo lót v.v.. tràn vào như thác lũ. Qua thương mại, qua các trang điện tử, quảng cáo và giải trí cùng với sự bùng nổ của kỹ nghệ truyền thông,  tiếng Việt có nguy cơ trở nên một thứ lai căng hổ lốn trong chớp nhoáng. Xin nhớ cho văn hóa Mỹ là một nền văn hóa áp đảo bởi vì nó là một nền văn hóa tiêu thụ đánh ngay vào thị hiếu cấp thời của con người cho nên các quốc gia chậm tiến nghèo khổ không sao cưỡng lại được. Trước nguy cơ đó đã nảy ra tiếng kêu cứu về tiếng Việt trong sáng.
            Nói về tiếng Việt trong sáng thì dễ nhưng nội dung của “tiếng Việt trong sáng” là gì? Theo thiển ý, sự trong sáng của tiếng Việt bao gồm nhiều yếu tố như:
-Không lai căng tức không chen tiếng Tây, tiếng Mỹ vào.
-Không tối nghĩa.
-Không gây hiểu lầm.
-Giản dị. (không cầu kỳ, rắc rối)
-Lịch sự, thanh tao.
            Trong khi chúng ta chưa có viện hàn lâm, tạm thời dựa vào các tiêu chuẩn này, chúng ta thử “chẩn bệnh” một loại tiếng Việt mới đang được xử dụng tràn lan ở trong nước và hải ngoại. Loại tiếng Việt mới này chen tiếng Mỹ,  sáng chế những danh từ  kỳ quặc, khó hiểu mang tính khoe khoang, làm dáng.
1)      Nội y: Tại sao lại phải dùng chữ khó vậy? Đây chỉ là thứ quần áo lót /đồ lót của đàn ông hay đàn bà.
2)      Triều cường: “Triều cường làm ngập đường phố Hà Nội.”  Tại sao không dùng chữ nhẹ nhàng và dễ hiều hơn “ Nước dâng cao làm ngập đường phố Hà Nội.”
3)      Các thiết bị siêu trường siêu trọng: Các thiết bị nặng và dài. Các thiết bị quá nặng và quá dài.
4)      Xe container: Xe vận tải hạng nặng, xe tải hạng nặng.
5)      Các container: Các kiện hàng, thùng hàng
6)      Bunker/Boong-ke: Hầm trú ẩn.
7)      Blog: Trang tin chuyên đề/ trang chuyên đề. Blogger: Người viết trang chuyên đề.
8)      Audio-visual: Âm thanh & hình ảnh/ phần âm thanh & hình ảnh.
9)      Bình ắc-quy: Bình điện. Sạc (Charge): Tiếp điện, nạp điện.
10)  Trái cherry to, đỏ mọng…Xin nhắc khéo báo phapluattp.vn rằng cherry là trái anh đào.
11)  Mát-xa (Massage): Đấm bóp, nghề đấm bóp.
12)  Ảnh nude: Ảnh khỏa thân, lõa thể.
13)  Hot girls :  Gái ăn mặc hở hang, khiêu dâm.
14)  Ăn mặc hot: Ăn mặc hở hang, khiêu dâm.
15)   Ảnh hot: Ảnh có cảnh khiêu dâm hoặc gái ăn mặc hở hang, khiêu dâm.
16)  Bản nhạc ấy hot lắm: Bản nhạc đang được ưa chuộng.
17)  Thị trường đang hot: Thị trường bán rất chạy (trái với ế ẩm)
18)  Top ten: Mười…đứng đầu. Mười hạng đầu.
19)  Email: Điện thư.
20)  Logo:  Huy hiệu.
21)  Mít-tinh: Cuộc biểu tình, buổi tập họp.
22)  Tiêm vaccine: Trích ngừa, chủng ngừa.
23)  Logic: Thuận lý, hợp lý, lý đương nhiên (không cần tranh biện).
24)  Clip: đoạn băng, đoạn thu hình ngắn. Mỹ định nghĩa clip: “A short part of a movie or television program...”
25)  Một số danh từ quân sự: Nên sử dụng danh từ có sẵn trong ngôn ngữ Việt vừa mạnh vừa sắc gọn: Ví dụ: Tàu pháo = Pháo hạm; Tàu tuần dương= Tuần dương hạm; Tàu hộ tống= Hộ tống Hạm; Tàu khu trục = Khu trục hạm & Trục lôi hạm; Tàu khinh tốc= Khinh tốc hạm; Tàu vận tải= Quân vận hạm; Cảng quân sự= Quân cảng. Ví dụ:  Quân Cảng Cam Ranh để phân biệt với Thương Cảng Cam Ranh;  Đội tàu= Hạm Đội. Ví dụ: Hạm Đội Phú Quốc, Hạm Đội 7 v.v..
26)  Bắt khẩn cấp: “Cảnh sát bắt khẩn cấp…” nghe nó kỳ làm sao ấy. Tại sao không dùng “Cảnh sát đã bắt ngay, bắt gấp nghi phạm…” hoặc “Tòa ra lệnh tức tốc bắt ngay can phạm”
27)  Đóng mới: Đóng tàu là đóng tàu mới rồi, chẳng ai đóng tàu cũ cả cho nên thêm chữ ”mới” là thừa.
28)  Cà- phê đểu: Đây là loại “cà-phê giả” nhưng cách dùng chữ của tác giả khiến người đọc hơi khó chịu. Xin nhớ cho có nhiều cách để diễn tả cùng một sự kiện, cách thì thanh tao, cách thì thô tục. Khi một đất nước tiến lên thì mọi thứ cũng phải tiến lên kể cả ngôn ngữ. Ngày nay hình như trên thế giới người ta dần dần loại bỏ những ngôn từ nghe có vẻ kỳ thị, xúc phạm, khinh rẻ hoặc gây ấn tượng bạo động. Chẳng hạn chữ nigger (mọi đen) ở Mỹ không ai dám nói nữa vì nó dùng để hạ thấp người Da Đen. Con người không thể ăn mặc thời trang, đi xe lộng lẫy, ở biệt thự, son phấn đầy người mà lại nói năng thô bỉ. Ngôn ngữ của một dân tộc có “văn hiến” thì mỗi ngày phải mỗi đẹp hơn và thanh tao hơn. Cho nên theo tôi một số ngôn từ sau đây như: đồ đểu, đồ con đĩ, đồ thất học, đồ hèn, đồ ngu, thằng mọi, đồ mất dạy, tiên sư cha mày v.v.. cũng cần phải loại bỏ trong ngôn ngữ Việt Nam.
29)  Hoành tráng: Ngày nay ở Việt Nam cái gì cũng “hoành tráng” làm cho một số tính từ diễn tả vẻ đẹp lần hồi trở nên bị “tuyệt chủng”chẳng hạn như: Một ngôi nhà bề thế, một phòng hội khang trang, một khu chợ ngăn nắp, một kiến trúc trang nhã, một lâu đài tráng lệ, một cuộc diễn binh hùng tráng, một cung điện nguy nga, một ngọn núi hùng vĩ, một ngôi chùa cổ kính v.v…Nếu tất cả những tính từ trên được thay bằng hai chữ “hoành tráng” thì tiếng Việt sẽ ra sao?
30)  Rất đẳng cấp: Cầu thủ đó rất đẳng cấp, bộ quần áo rất đẳng cấp, chiếc xe thuộc loại đẳng cấp…Bộ kho tàng ngôn ngữ Việt không còn chữ nào để thay cho hai chữ “đẳng cấp” nữa sao? Tại sao không nói: Cầu thủ nhà nghề, cầu thủ quốc tế, cầu thủ đắt giá; bộ quần áo đắt tiền; xe thuộc loại sang v.v.. Ngoài ra tự thân hai chữ “đẳng cấp” chỉ có nghĩa là “thứ bậc” như “đẳng cấp thấp”, “đẳng cấp cao” chứ  nó không có nghĩa là “cao, giỏi, sang”. Từ Điển Việt Nam do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin ấn hành năm 2000 nơi trang 291 định nghĩa: đẳng cấp là thứ, bậc, hạng trong xã hội như đẳng cấp xã hội.
31)  Phỏng vấn trực tuyến: Chữ tuyến nghe có vẻ hình học. Nào là trung tuyến, tiếp tuyến v.v…Tại sao không dùng “phỏng vấn trực tiếp” hoặc “giải đáp trực tiếp” tức không qua trung gian nào, mà trực tiếp trên truyền hình hoặc họp báo chứ không chờ tới ngày mai hoặc trả lời bằng thư.
32)  Văn hóa ẩm thực: Văn hóa bao gồm nhiều lãnh vực như: cách ăn uống, y phục, nói năng, lễ nghi, chữ viết, giao tiếp, cư xử v.v…Nếu nói văn hóa ẩm thực thì chẳng lẽ lại có thêm văn hóa lễ hội, văn hoá y phục nữa sao? Vậy nói “văn hóa ẩm thực” là không đúng. Đó chỉ là các món ăn và cách ăn uống mà thôi. Khi chúng ta du lịch Hòa Bình chẳng hạn, ngoài việc ngắm phong cảnh, dĩ  nhiên chúng ta còn muốn thưởng thức các món ngon, lạ, độc đáo của đồng bào Mường và chỉ có thế. Nếu nói, “Chúng ta khám phá văn hóa ẩm thực của đồng bào Mường” nghe có vẻ “ghê gớm” quá.
33)  Giải phóng mặt bằng: Nên thay bằng “giải tỏa mặt bằng” cho nó nhẹ nhàng. Chính phủ có thể giải tỏa một khu ổ chuột để chỉnh trang đô thị. Nhưng nếu nói “ Giải phóng một khu ổ chuột” có thể gây hiểu lầm là cứu dân ở đây ra khỏi cuộc đời lầm than như “giải phóng nô lệ” chẳng hạn.
34)  Cảng biển: Nghe rất lạ tai. Tại sao không dùng “hải cảng”? Còn “cảng bay” tại sao không dùng “ phi cảng” ? Trong nước hiện có “Cảng Hàng Không Quốc Tế Đà Nẵng”. Rút gọn hơn chúng ta có thể dùng “Phi Cảng Quốc Tế Đà Nẵng”.
35)  Báo vietnamnet.vn: “Những ‘bí mật’ trong hầm đường bộ Hải Vân” Sao dùng chữ “khó” quá vậy? Xin đơn giản thành “Những ‘bí mật’ trong đường hầm Đèo Hải Vân.” giống như “đường hầm Thủ Thiêm”. Nếu chúng ta viết “hầm đường bộ Thủ Thiêm” thì độc giả sẽ nghĩ sao?
36)  Cũng báo vietnamnet.vn: “Hội chứng hot girl nude giữa thiên nhiên”. Thực ra tác giả muốn đưa tin: Có một “bệnh dịch” hoặc “thói bắt chước” tạp chí dâm ô Mỹ chụp hình cởi truồng ngoài trời (để nổi tiếng) nhưng lại dùng một đoạn văn thật kỳ lạ.
37)  Báo phunutaday.vn:  “Thành phố….vừa điều chuyển hai công chức không ’vừa lòng’ dân”. Chữ “điều chuyển” nghe chưa quen, nên nói là “thuyên chuyển”. Nếu trong quân đội thì nói là “thuyên chuyển tới một đơn vị khác”. Còn hai chữ “điều động” thì có nghĩa là điều động binh lực, nhân lực, điều động một lực lượng an ninh v.v..
38)  “Bố nghiện ma túy giết con 10 tháng tuổi”: Chữ tuổi ở đây là thừa mà chỉ cần viết “Bố nghiện ma túy giết con mới 10 tháng” thì ai cũng hiểu. 
39)  “Người cao tuổi được mua vé xe buýt trợ giá”. Nên viết “Người cao tuổi được giảm vé xe buýt”. Viết  báo cốt ở nhẹ nhàng, giản dị, dễ hiểu.
40)  Báo giaoduc.net.vn có tựa đề: “Bé sơ sinh hai đầu ở Sóc Trăng đã tử vong”. Chữ “tử vong” có nghĩa là chết. Còn “thương vong” có nghĩa là vừa chết vừa bị thương. Vậy tại sao không dùng hai chữ “đã chết” cho nó nhẹ nhàng hơn?
41)  Cận cảnh (close-up) là ảnh chụp gần, kề sát mặt. Nếu không phải là ảnh chụp gần mà chỉ là khoảng cách bình thường thì không được dùng hai chữ “cận cảnh”.
42)  Chùm ảnh: Chữ “chùm” làm chúng ta liên tưởng tới chùm nho, chùm nhãn, dính chùm v.v…Vậy thì nên dùng chữ “một loạt hình ảnh”, “một số hình ảnh”. Ví dụ: Một số hình ảnh về đại hội…
43)  Tiền boa: Nói đầy đủ là “pour boire” theo cách lịch sự của người Pháp  coi đó chỉ là chút “tiền trà nước”. Vậy thì nên dùng “tiền trà nước” thay vì “tiền boa” vì ông Tây đã rời Việt Nam lâu lắm rồi.  
44)  Minh họa (Illustrated): Là hình vẽ của họa sĩ để diễn tả, trình bày một cuốn sách, một câu truyện. Nếu ngoài bìa cuốn sách ghi “Illustrated by” có nghĩa là “Vẽ bởi họa sĩ”. Nếu ghi “ photography by”có nghĩa “Hình ảnh của”. Ví dụ, trong một bài viết nói về Khu Trục Hạm Lý Thái Tổ mà chúng ta không có tấm hình của chiếc này và thay thế bằng tấm hình của chiếc khu trục hạm khác thì chúng ta không được ghi “Hình minh họa” mà chỉ cần ghi chú ở dưới tấm hình “Đây là hình ảnh khu trục hạm ABC một loại tương tự” thì độc giả hiểu ngay. Ngày nay câu “ hình minh họa” được dùng tràn lan ở trong nước để phụ chú dưới tấm hình…như thế là hoàn toàn sai. Xin nhớ cho minh họa có nghĩa là vẽ ra, diễn tả bằng tranh chứ không phải bức hình thật hoặc bức hình thay thế. Nếu không biết thì cứ mở  sach vở, báo chí Nhật, Mỹ, Nga… ra mà học thì biết ngay.
45)  Trồng cây xanh: Trồng cây là đủ rồi bởi vì cây nào lá chẳng xanh? Nói thêm “xanh” là thừa. Nói “trồng cây xanh” chẳng khác nào nói “Trồng gấc đỏ”. Xin thưa gấc nào mà chẳng đỏ? Chúng ta thường nói “Đỏ như gấc”. Tuy nhiên cũng phải để ý là có khá nhiều loại cây lá không xanh mà nâu hoặc nâu đậm. Nếu “trồng cây xanh” thì chẳng lẽ không trồng các loại này sao? Ngày xưa các cụ đã chế giễu cách dùng văn thừa thãi và trùng lập qua hai câu thơ:
Nửa đêm giờ tý canh ba.
Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi.
46)  Báo Tuổi Trẻ đi một tiêu đề như sau “Cầu thủ bóng đá VN luôn luôn thua thiệt cầu thủ ngoại khi tranh chấp bóng tay đôi do hạn chế về thể lực và thể hình.” Câu văn này nặng nề giống như dịch lại từ một đoạn văn từ báo Hồng Kông, Đài Loan. Người ta nói “tranh bóng” chứ  không nói “tranh chấp bóng”. Chữ “ tranh chấp” nên dành cho tranh chấp quyền lực, tranh chấp lãnh thổ. Ngoài ra các chữ “thể  lực và thể hình” nghe “đao to búa lớn quá” không thích hợp trong lãnh vực thể thao. Chúng ta có hai chữ “sức vóc” vừa giản dị vừa dễ hiểu tại sao không dùng? Xin thưa “sức” là sức khỏe,  “vóc” là sự cao lớn, tầm vóc. Nếu thay bằng hai chữ này, bỏ bớt những chữ thừa thì câu văn sẽ gọn nhẹ, từ 27 chỉ còn 19 chữ “Cầu thủ Việt Nam khi tranh bóng luôn luôn lép vế/thua cầu thủ nước ngoài do sức vóc kém.”
47)  Báo giaoduc.net.vn: “Cô gái xinh đẹp hát ca trù làm xiêu lòng người nghe.” Ông phóng viên nào đó dùng chữ “xiêu lòng” không đúng. Xiêu lòng có nghĩa là mới đầu không bằng lòng, sau thuyết phục, nói mãi thì “xiêu lòng” tức thuận theo. Tôi cũng đã xem đoạn băng này. Thực ra trong cuộc thi hát, cô thí sinh này còn trẻ, xinh xắn, mới 18 tuổi, mà hát được ca trù (cũng tàm tạm) cho nên chinh phục được hoặc tạo thiện cảm nơi khán giả chứ không phải làm “xiêu lòng” khán giả.
48)  Đắng lòng trước cảnh…: Từ trước đến giờ chưa có sách vở nào viết “đắng lòng” cả mà chỉ thấy viết “Đau lòng trước cảnh…” Xin quý ông/bà làm ơn coi lại hai từ này. Bà Huyện Thanh Quan viết “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc”, chứ bà không viết “Nhớ nước đắng lòng con cuốc cuốc”.
49)  Báo giaoduc.net.vn: “Chi phí dao động từ 30.000 USD đến 60.000 một năm”. Chữ ‘dao động” ở đây  thừa. Chỉ cần viết “Chi phí khoảng từ 30,000 USD đến 50,000 USD một năm” là người ta hiểu rồi. 
50)  Cũng lại giaoduc.net.vn: “NoithatVP đang thanh lý các sản phẩm tủ xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.” Trời ơi! Các sản phẩm tủ là gì? Tại sao không viết, “các loại tủ” cho ngắn gọn và dễ hiểu? Ngoài ra chữ “thanh lý” làm người đọc liên tưởng tới sự “thanh lý môn hộ” tức truy lùng, giết những kẻ phản nghịch trong các môn phái (cũng giống như “thanh trừng” vậy). Do đó chúng ta nên thay thế bằng các chữ giản dị hơn như “giải quyết” hoặc”bán hết” hoặc “tống hết”. Nếu thế thì câu văn sẽ tạm gọn nhẹ như sau: “NoithatVP đang muốn bán/giải quyết hết tất cả các loại tủ xuất cảng sang Nhật Bản.”
51)  Báo phunutoday.vn: “Trong tiết trời lạnh giá, boots cao cổ có lẽ là lựa chọn hàng đầu.”  Chẳng lẽ tiếng Việt không có chữ nào để dịch chữ boots sao? Xin thưa đó là “giầy cao cổ” hoặc “giầy ống”. Thật lạ lùng! Bao kẻ sống xa quê hương mấy chục năm trời mà vẫn tha thiết với tiếng Việt tinh ròng, trong khi kẻ ở trong nước tiếng Anh tiếng Pháp chẳng bao nhiêu, lại tập viết lối văn hổ lốn chen tiếng Tây tiếng Mỹ vào.
52)  Báo vnEpress.net: Có một tựa đề “Gu đàn ông của phụ nữ qua từng độ tuổi.” Xin thưa “gu” (gout) có nghĩa là “sở thích”. Ý của tác giả muốn nói,“Sở thích của phụ nữ về đàn ông tùy tuổi tác.” nhưng lại diễn tả bằng một câu văn thật trúc trắc. Rồi Thời Báo Kinh Tế Saigon Online “Chương trình truyền hình càng lắm scandal thì rating tăng vọt.” Thật lai căng hết chỗ nói! Giống hệt như trẻ con nói tiếng Việt ở Mỹ.
53)  Báo Vietnamnet.vn: “Việt Nam trong cuộc chơi quyền lực Mỹ- Trung.” Cuộc chơi quyền lực chính là cuộc đọ sức. Tại sao không dùng hai chữ ấy cho giản dị và sáng sủa hơn?
54)  Trang BBC tiếng Việt ngày 1/1/2013: “Ít nhất 60 người đã bị dẫm đạp chết...”  Ý tác giả muốn nói “ Ít nhất 60 người dẫm đạp lên nhau mà chết..” nhưng lại dùng một câu văn khiến độc giả có thể hiểu 60 người này bị voi hoặc trâu bò dẫm đạp lên mà chết! Xin nhớ cho khi dùng chữ “bị” tức thể thụ động thì phải nói “bị cái gì” như : bị voi giày, bị xe cán, bị trâu bò húc chết v.v.. Chính mình làm thì không dùng chữ “bị”.
55)  Trang VOA tiếng Việt : “Hàng ngàn fan ở Đài Loan đã đến xem buổi ca nhạc..” ; “trang web xã hội”; “vi rút trong bao tử”; “không chịu gia hạn visa”; “một chương trình doping chuyên nghiệp”…và còn rất nhiều nữa. Xin thưa fan là người hâm mộ, vi rút  là siêu vi trùng, visa là nhập cảnh, doping là dùng thuốc kích thích. Trang báo mang tên “tiếng Việt” mà thực tế lại là “tiếng Việt lai Mỹ”.
Tạm kết luận:
Viết một bài báo, một bản tin, đặt một tựa đề không phải dễ. Mình viết ra rồi cần có chủ bút/chủ biên duyệt lại. Ở Mỹ mà viết bậy, viết kém thì tiêu tan sự nghiệp, chỉ có nước tìm nghề khác kiếm ăn. Viết bậy, viết nhảm, viết thiếu đứng đắn làm giảm giá trị người viết và xúc phạm độc giả. Nói về chuyện viết văn thiếu đứng đắn tôi có một kỷ niệm thời thơ ấu lúc còn học Lớp Đệ Thất (Lớp 6) năm 1955 ở trong Nam như sau: Trong một bài luận văn mô tả một buổi đi câu tôi đã dùng hai chữ “khoái tỉ” tiếng mà bọn trẻ Miền Bắc hay dùng lúc bấy giờ có nghĩa là “sung sướng”. Chấm bài xong thầy Nguyễn Tri Tài - người Huế - gọi tôi lên nói, “Chữ khoái tỉ không được đứng đắn, con không nên dùng.” Nghe thầy nói vậy tôi “ngộ” ra ngay và cho tới ngày hôm nay, dù đã hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn  nhớ lời thầy là phải dùng chữ cẩn thận khi viết văn. Đừng tưởng lời nói hay bài viết sẽ qua đi như một cơn gió thoảng - mà nó còn “tạo nghiệp”- nghiệp lành hay nghiệp dữ - tức gây tác hại cho người khác và cho chính mình theo giáo lý nhân-quả của nhà Phật. Trong cuốn hồi ký của một nhà văn xuất bản ở hải ngọai - một ông chuyên viết truyện dài đăng trên báo hằng ngày mà Miền Nam lúc bấy giờ gọi là viết “feuilleton”. Ông thường chen vào truyện một vài chi tiết khiêu dâm, gợi dục để “câu” độc giả trẻ. Một ngày kia cô con gái về khoe với ông, “ Ba ơi! Con bạn học của con đọc tới cái đoạn…mà ba viết, nó thích quá rùng cả mình !!!” Nghe con gái nói thế ông toát mồ hôi, không ngờ những gì  mình viết ra đã ảnh hưởng đến chính cô con gái cưng. Từ đó ông không bao giờ dám viết văn theo cái kiểu chen vào những chi tiết khiêu dâm nữa.  Hiện nay chữ “nhí” đang được dùng tràn lan trong nước. Xin nhớ cho chữ “nhí” là tiếng lóng dùng để chỉ “nhỏ, bé” có ý diễu cợt, không đứng đắn. Nếu dùng không đúng chỗ sẽ làm tổn thương người ta. Dù là trẻ em cũng có nhân cách của trẻ em. Chẳng hạn nếu chúng ta nói “ca sĩ tí hon”, “nhạc sĩ thần đồng”, “chú tiểu nhỏ”,  “con chim bé bỏng” nghe có vẻ thanh tao hơn là “ca sĩ nhí”, “nhạc sĩ nhí”, “chú tiểu nhí”, “con chim nhí”. Làm phóng sự, viết bản tin phải viết một cách trung thực, nghiêm túc, không bông đùa, châm chọc hoặc khôi hài vô ý thức. Bài viết sẽ bộc lộ tư cách và trình độ của người viết. Người xưa nói, “Văn tức là người”.
Ngôn ngữ và văn chương là tài sản vô giá do tiền nhân để lại, chúng ta phải có trách nhiệm bảo tồn và phát huy cho mỗi ngày thêm sáng đẹp. Do giao tiếp với nhiều nguồn văn hóa ngoại lai, những chữ nào có thể dịch sang Việt Ngữ thì phải cố mà dịch cho được để giữ gìn ngôn ngữ và văn chương Việt cho thuần khiết. Chen tiếng ngoại quốc vào tiếng Việt một cách bừa bãi khiến tiếng Việt trở nên lai căng, hổ lốn. Muốn thế thì phải học hỏi và nhất là phải cẩn thận và viết với tinh thần trách nhiệm. Trách nhiệm có nghĩa là hiểu được hậu quả của những gì mình viết ra. Nếu không giỏi thì cứ học theo người xưa mà viết ra, cố “sáng chế” tức viết bậy, viết nhảm. Chúng ta không nên đùa rỡn, nói mạnh hơn là phá hoại ngôn ngữ và chữ viết của dân tộc. Học tiếng nước ngoài là để giao dịch, làm ăn buôn bán và nghiên cứu những kiến thức mà sách Việt không có. Học tiếng nước ngoài không có nghĩa là để về hủy hoại tiếng mẹ đẻ hoặc thỉnh thoảng “xổ” ra vài tiếng để chứng tỏ mình văn minh hơn đời hoặc có vẻ “Mỹ” đây. Người Mỹ có bắt chước ai đâu? Họ đứng trên đôi chân của họ. Tại sao ta phải tự ti mặc cảm về ngôn ngữ của dân tộc mình? Chuyện “nói tiếng Tây ba rọi” đã xưa lắm rồi và bị mỉa mai suốt thời kỳ Thực Dân Pháp còn đô hộ nước ta. Sau hết, cũng xin nhớ cho muốn giữ gìn tiếng Việt trong sáng thì tâm hồn mình cũng phải trong sáng trước đã. Tâm hồn trong sáng là tâm hồn của một người yêu nước Việt và tiếng Việt. Khi mình nói mình yêu cha mẹ tức là phải làm sao cho cha mẹ sung sướng. Còn khi mình nói mình yêu tiếng Việt có nghĩa là mình phải làm sao cho tiếng Việt mỗi ngày mỗi trở nên sáng đẹp, thanh tao. 
 
Đào Văn Bình(California ngày 02/01/2013)

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

Nghĩ về người thầy

Ngày Nhà giáo Việt Nam-Vài lời tâm sự

Một lớp học vùng cao. Ảnh mang tính minh họa, nguồn Internet.
Từ những ngày đầu cắp sách đến trường, các học trò ngây thơ đã bị nhồi vào đầu óc non nớt cái tinh thần “tôn sư trọng đạo”. Nhiều người Việt Nam tự hào vì chúng ta có truyền thống đặc trưng này (giống người Trung Hoa?).
Nhưng đối mặt với thực tế, bỏ qua vấn đề về chất lượng giáo dục học thuật, nền giáo dục Việt Nam đang gặp phải vấn đề đạo đức nghiêm trọng. Thầy cô rõ ràng chẳng còn là những tấm gương về tri thức và đạo đức nữa. Nhưng tinh thần “tôn sư trọng đạo” vẫn còn đó như là cái lý do khã dĩ hợp lý để chúng ta cùng nhau bày trò mua bán: thầy cô nhận được những món quà hậu hĩnh, học sinh nhận được sự dễ dãi hoặc quan tâm đặc biệt. Vấn đề ở đây không phải là truyền thống luân lý bị làm cho hư hỏng mà chính truyền thống ấy có vấn đề ngay từ đầu, để trở nên thoái hóa như hôm nay.
Người Việt Nam ta dưới ảnh hưởng của văn hóa Khổng Mạnh cũ kỹ và khiếm khuyết, luôn đề cao sự kính trọng dành cho người lớn tuổi. Đồng ý rằng chúng nên tôn trọng người lớn tuổi vì những kinh nghiệm và giá trị đúng đắn mà thế hệ trước đã tạo dựng; hơn nữa, qua những trải nghiệm của họ đối với thế giới, chúng ta có thể học hỏi để tránh những sai lầm mà họ đã mắc phải, để đạt được thành công mà ít phải trả giá hơn. Chính điều đó làm chúng ta biết ơn và tôn kính họ.
Nói tóm lại, người lớn tuổi được tôn trọng vì giá trị chứ không phải vì tuổi đời. Bởi sự nhầm lẫn hay là sự cố tình lập lờ, chúng ta hòa trộn tuổi tác và giá trị vào cùng nhau như thể hai khái niệm này luôn song hành không bao giờ tách biệt, để khi nói đến cái này thì ngầm hiểu đến cái kia. Nhưng oái oăm thay, thực tế không chứng minh điều đó. Tuổi tác không phải lúc nào cũng đi kèm với kinh nghiệm và tri thức. Tôi đã thấy nhiều người già không hề có kinh nghiệm sâu sắc nào về cuộc sống dù đã trải qua nhiều thăng trầm. Những người có kiến văn sâu sắc, cùng với tuổi đời, họ có thêm nhiều kinh nghiệm qua những nhận thức tỉnh táo về thế giới; ngược lại, những người tầm thường và hời hợt, thì sự tác động của thế giới cũng không làm cho họ dày dạn kinh nghiệm hơn được. Ấy là tôi đang nói đến những kinh nghiệm đặc biệt chứ không phải là những kinh nghiệm thông thường của người xưa, cái đã trở thành thường thức hoặc bị khoa học hay hoàn cảnh hiện đại vượt qua. Do đó, thay vì đề cao sự hiểu biết, chúng ta đề cao tuổi tác. Và chúng ta mắc kẹt trong đó.
Trong nền văn hóa xem tuổi tác là giá trị này, người lớn tuổi luôn được mặc định là đúng, người ít tuổi luôn phải theo gót người đi trước. Cái tâm lý “theo chân” ấy sẽ khiến chúng ta mắc cạn vào một chỗ tồi tệ nếu chúng ta có những người dẫn đường tồi tệ. Sự đề cao thái quá người lớn tuổi làm cho người trẻ hẳn nhiên thiếu tự tin và động lực để tự đứng trên đôi chân của chính mình, để tự thất bại và dũng cảm đứng lên từ những sai lầm của chính mình. Họ luôn tìm cách đi đường cũ để an toàn.Tôi luôn tự hỏi: chúng ta phải chịu hậu quả về những điều mình làm, ấy thì tại sao chúng ta lại không được làm theo điều mình muốn, để được thất bại theo cách của chính mình? Người ta luôn lĩnh hội nhiều và sâu sắc hơn từ những trải nghiệm sống động bởi chính mình hơn là bởi sự truyền đạt của người khác. Bởi văn hóa ấy, nơi mà người sau tiếp bước người trước, những giá trị sáng tạo bị kiềm hãm triệt để. Làm sao người ta dám làm khác đi nếu người ta không dám nghĩ khác đi? Và cũng chính sự đề cao tuổi tác như một giá trị khiến chúng ta rất nhiều khả năng luẩn quẩn trong một mớ bòng bong những điều tồi tệ xưa cũ mà không tìm được lối thoát.
Từ sự kính trọng dành cho người đi trước, chúng ta luôn dành cho tinh thần “tôn sư trọng đạo” một chỗ đứng cung kính trong đời sống văn hóa của mình. Sự tôn kính dành cho người thầy và sự trọng thị dành cho con đường thầy vạch ra cũng không là gì khác hơn việc phải khư khư giữ lấy nếp nghĩ và cách làm cũ. Sự tôn trọng cần thiết dành cho người trẻ tuổi ở đây bị bỏ ra ngoài lề của những suy nghĩ và quan hệ nghiêm túc. Không ít nhữngtrí thức lớn tuổi hiện nay luôn cho rằng cứ trẻ là phải thiếu hiểu biết, phải nông cạn, phải thua kém, phải dò dẫm theo con đường mà người đi trước vạch ra. Bằng chứng là rất nhiều người không tin những gì tôi viết là do chính tôi suy nghĩ. Điều này làm tắc nghẽn ngay từ đầu cái cảm hứng tìm những con đường mới để đi của thế hệ trẻ. Ngoài những hệ lụy làm thui chột sự sáng tạo của thế hệ trẻ, tinh thần “kính lão, tôn sư” còn dẫn tới một hậu quả khác, cũng không kém phần tồi tệ. Đó là, sự thiếu lịch sự, nhã nhặn trong giao tiếp của chúng ta. Một mặt người trẻ phải cung kính, khiếp sợ người lớn; mặt khác, người lớn thì được thỏa mái trong cách cư xử. Người trẻ chỉ cần lớn tiếng phản đối người lớn thì bị cho là hỗn láo, trong khi người lớn lớn tiếng, thậm chí xúc phạm người trẻ cũng là điều chấp nhận được. Điều này tạo ra văn hóa giao tiếp, xử sự thiếu lịch sự. Bởi không ai bị đối xử mất lịch sự, thô bạo mà lại trở nên những con người lịch sự, hòa nhã được. Người lớn mất lịch sự, thiếu tôn trọng người trẻ; người trẻ lại mất lịch sự và thiếu tôn trọng người trẻ hơn mình.
Hôm nay ngày Nhà giáo Việt Nam trên Facebook, có nhiều người bạn kể về những kỷ niệm đáng buồn với thầy cô, tôi tự hỏi, ngoài trừ vấn đề về luật pháp, nếu chúng ta không có tâm lý coi thường trẻ con, coi thường người trẻ thì liệu những điều đáng buồn ấy có xảy ra nhiều vậy không?
Thầy cô ngày xưa có quyền gõ đầu trẻ (ngày này ở các quốc gia tiến bộ, chắc chắn hành động này sẽ khiến thầy cô gặp rắc rối với cảnh sát), ngày này ở Việt Nam thầy cô nhũng nhiễu, quát nạt, xúc phạm, đánh đập học sinh. Đó là vì chúng ta, không những sống dưới một chế độ vô luật pháp, mà còn thoi thóp trong văn hóa “kính lão, tôn sư” lỗi thời.
Rồi lại đến lòng biết ơn thầy cô. Đó cũng là cả một vấn đề. Lòng biết ơn là tình cảm tự nhiên của con người, không phải chỉ người Á Đông mới có. Nhưng chỉ có Việt Nam ta có một ngày để ghi ơn thầy cô, chúng ta cố tình biến lòng tri ân tự nhiên và tốt đẹp thành một “định chế văn hóa”. Không dừng lại ở đó, lòng biết ơn còn bị đẩy lên cao hơn thành sự trả ơn bắt buộc, để rồi nó quay lại làm thoái hóa triệt để lòng tri ân vốn tốt đẹp.
Trong xã hội hiện đại, với nền giáo dục đại chúng, những người làm công việc giảng dạy được trả lương để nhận lấy nhiệm vụ dạy dỗ, truyền đạt kiến thức; học trò bỏ tiền đi học để nhận lấy quyền lợi được dạy dỗ, được truyền đạt kiến thức. Mọi thứ có thể diễn ra trôi chảy như trong một hợp đồng dân sự. Có thể nói, trừ những trường hợp giáo viên đặc biệt có tâm huyết và nỗ lực, việc dạy và học hoàn toàn nằm trong mối quan hệ tương hỗ giữa trách nhiệm và quyền lợi. Không có gì phải được đẩy lên đến mức phải biết ơn và trả ơn. Tôi nghĩ, những sự hối lộ thầy cô, nhũng nhiễu gia đình học sinh hiện nay chẳng thể tự nhiên mà có. Tất cả chỉ là sự nối tiếp của truyền thống biết ơn và trả ơn thầy cô từ ngày xưa. Đó cũng là lẽ tất nhiên khi chúng ta cứ mãi bám lấy cái truyền thống ấy. Chỉ có điều sự trả ơn đơn sơ ngày xưa giờ được phát triển theo kiểu “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Ở phương Tây, người ta không “tôn sư trọng đạo” thì người ta không có nền giáo dục tốt, không có những người thầy ra thầy, trò ra trò hay sao?
Sẽ có người cho là tôi đi ngược lại truyền thống. Nhưng phải nói rằng, những lễ nghi, ràng buộc truyền thống đã đến lúc phải bỏ đi để giải phóng con người. Những trói buộc ấy chẳng phải là đạo đức gì cả mà chỉ là những nghi thức luân lý của một thời xưa cũ.
Hôm nay, ngày Nhà giáo Việt Nam, thực tình mong một ngày nào đó chẳng còn ngày này nữa, chẳng ai chú ý đến việc phải tôn kính và biết ơn thầy cô thái quá nữa mà mọi người , thầy cũng như trò, sẽ cư xử với nhau trong tinh thần tôn trọng, luôn nỗ lực và có trách nhiệm đối với công việc của mình. Mọi việc sẽ tốt đẹp, không cần buộc ai phải trả ơn mình vì trách nhiệm mà mình phải làm cả. Hôm nay, không hoa, không quà, chỉ xin chúc những người làm công việc giảng dạy của chúng ta luôn thể hiện mình là người đáng kính trọng vì giá trị mình có, chứ không phải vì tuổi tác hay chức danh. Mong lắm thay!
Buôn Hồ, ngày 20 tháng 11 năm 2012
© Huỳnh Thục Vy

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Để có một nền giáo dục tiến bộ

Thuyết Big Bang giáo dục
Christian Caryl, Foreign Policy,
Trần Ngọc Cư dịch
Các nước độc tài gần như không mấy thành công trong lãnh vực tri thức. Chắc chắn đây không phải là một sự kiện ngẫu nhiên.
Trung cộng không những chế tạo nhiều sản phẩm hơn phần còn lại của nhân loại – Trung cộng còn sắp sửa khống chế thế giới về mặt tri thức. Các đại học Trung cộng đang chuẩn bị chinh phục thế giới. Hiện nay, Trung cộng đang dẫn đầu về việc xuất bản các luận văn nghiên cứu. Mỗi năm các đại học Trung cộng cho ra hàng hàng lớp lớp những kỹ sư tốt nghiệp có chất lượng ưu việt – và điều này cũng chẳng lạ gì, nếu căn cứ vào lề lối học tập đầy gian khổ của họ.

Thật ra, không một điều nào ở trên là (hoàn toàn) đúng sự thật. Hẳn nhiên Trung cộng được cung cấp nhiều bộ óc vĩ đại [đào tạo ở nước ngoài], và hẳn nhiên nhiều sinh viên Trung cộng là những người làm việc chăm chỉ. Nhưng nhiều dữ liệu thống kê thường được trích dẫn về những thành công của Trung cộng trong lãnh vực học thuật hoá ra là trống rỗng. Vâng, giới hàn lâm Trung cộng xuất bản nhiều luận văn – cũng chỉ vì họ muốn đạt chỉ tiêu do chính phủ đề ra. Nhưng phẩm chất của hầu hết các tài liệu chuyên khảo do người Trung cộng soạn ra (được đánh giá qua số lần chúng được các học giả khác trích dẫn) thì không đồng nhất. Và những con số đáng kinh phục kia về đội ngũ kỹ sư ra trường cũng hoàn toàn bị lật tẩy. Một số những dữ liệu liên quan không có xuất xứ rõ ràng, và nhiều người trong số “kỹ sư” ấy nói đúng ra chỉ là “những kỹ thuật viên”, những người chỉ hội đủ điều kiện nghiệp vụ ở mức tối thiểu. (Đấy là chúng ta không nói đến tình trạng gian lận và tham nhũng đang lan tràn lộ liễu trong hệ thống giáo dục Trung cộng).

Nói tóm lại, câu chuyện về sự trỗi dậy của giáo dục Trung cộng cần được tiếp nhận với một thái độ hoài nghi. Đầu óc tôi tập trung vào sự kiện này vào hôm kia, khi tôi phát hiện một bài trên tờ New York Times mang tựa đề đáng sợ sau đây: “Mỹ rơi xuống và châu Á vươn lên trên bảng xếp hạng các trường đại học”. Bài báo nói đến một nghiên cứu mới nhất về đại học toàn cầu được tiến hành bởi tạp chí Times Higher Education (một trong những tổ chức hiếm hoi đưa ra bảng xếp hạng thường niên các đại học trên thế giới). Đây là một trong những đoạn mô tả sự qua mặt ngoạn mục của châu Á:

“
Đại học châu Á đạt thành tích xuất sắc, với các đại học tại Trung cộng, Singapore, và Australia vượt lên bảng xếp hạng; mọi đại học ở Nam Hàn cũng thế, được dẫn đầu bởi Đại học Quốc gia Seoul đã nhảy từ vị thứ 124 lên 59. ‘Qua nhiều năm nay chúng ta đã nói nhiều về sự trỗi dậy của châu Á’, Phil Baty, biên tập viên bảng xếp hạng đã nói. ‘Nhưng đây mới là bằng chứng thực nghiệm vững chắc đầu tiên mà chúng ta có được.’”.

Ngoài vấn đề có nên coi Australialà một phần của châu Á hay không, tôi thấy luận đề này khá kích thích sự tò mò. Một sự quan sát kỹ lưỡng hơn về bảng xếp hạng nhanh chóng cho thấy rằng, vâng, các đại học từ châu Á chắc chắn là ở trong chiều hướng đi lên. Nhưng câu hỏi thú vị hoá ra lại là: Từ châu Á nào?

Dựa vào những rêu rao về sự trỗi dậy đáng kinh ngạc của giới hàn lâm Trung cộng, người ta kỳ vọng rằng các đại học của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ chiếm một t
ỷ lệ vượt bực trong số những đại học thành công nói trên. Nhưng hoàn toàn không phải như vậy. Tổng cộng có 57 đại học châu Á được lọt vào danh sách 400 đại học hàng đầu toàn cầu lần này. Trong số đó chỉ có 9 đại học từ Hoa lục. Nghĩa là 9 trong tổng số 400. Cơ sở giáo dục được xếp hạng cao nhất của Trung cộng là Đại học Bắc Kinh ở vị thứ 46 (nằm ngay sau Đại học Washington tạiSt. Louis, bang Missouri
).

Nhưng điều này không có nghĩa là tất cả các đại học Trung cộng đang tìm cách bắt kịp thời đại – và bằng chứng trở nên rõ ràng hơn khi ta nhìn vào phần còn lại của bảng xếp hạng. Đài Loan tự hào có được bảy đại học nằm trong danh sách hàng đầu nói trên, và Hồng Kông nhỏ bé – tôi cho là đơn vị thực sự đạt thành tích đáng ngạc nhiên nhất trong bản nghiên cứu – có đến 6 đại học trong số này. Vậy câu hỏi cần đặt ra là, tại sao hai lãnh thổ do người Hoa sinh sống này đã tiến bộ quá xa đến nỗi tổng số đại học của họ trong danh sách ưu tú đã vượt quá con số của Hoa Lục – mặc dù dân số của họ chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ xíu so với Hoa Lục?

Tôi xin mạo muội đưa ra một suy đoán: Tôi nghĩ sự kiện này có liên quan tới bản chất của các xã hội mà trong đó các đại học này đã bám rễ. Mặc dù dân chúng Hồng Kông không thể bầu lãnh đạo của mình một cách nghiêm chỉnh, nhưng văn hóa của lãnh thổ này mang tinh thần dân chủ, với một chế độ pháp trị vững mạnh và những sinh hoạt hội họp và tranh luận đã trở thành lề thói – đây là điều hiển nhiên không cần tranh cãi. (Dạ thưa, tôi biết: Hồng Kông chính thức là một phần của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Nhưng lãnh thổ này còn hưởng quyền tự trị đáng kể và vẫn còn hăng say bảo vệ tính độc đáo của mình). Đài Loan, hẳn nhiên, là một quốc gia dân chủ đa đảng – không cần phải giải thích gì thêm.

Do đó câu hỏi tiếp theo là, tại sao lập luận của tôi – rằng sự khác biệt này có liên quan tới chế độ dân chủ – là có lý? Nó có lý vì, thật khó mà xây dựng được một đại học nghiên cứu nghiêm chỉnh nếu không có tự do thông tin và tự do tìm hiểu – và đây chính là loại đại học mà các chế độ độc tài rất khó chấp nhận. “
Tự do nghiên cứu là yếu tố cơ bản trong công thức tạo dựng một đại học đẳng cấp quốc tế”, đây là phát biểu của Phil Baty, người có trách nhiệm tiến hành cuộc nghiên cứu (và cũng là người được nói đến trong đoạn báo Times trích dẫn ở trên). Ông nói tiếp: “Các đại học phải cho phép giáo sư của mình có điều kiện tự do để chất vấn những kiến thức được tiếp thu
”. Nếu ném đủ tiền và cơ sở hạ tầng vào vấn đề này, thì người ta cũng có thể làm được nhiều chuyện, ông nhận xét; các lãnh đạo Trung cộng, nhờ hiểu rõ tầm quan trọng của tri thức và sáng kiến kỹ thuật, hiện đang bù đắp lại cơ may đã mất trong lãnh vực này. Nhưng thậm chí đối với cả những môn như toán và khoa học, chắc chắn người ta sẽ không đạt được kết quả tối ưu cho đồng tiền chi ra, nếu giáo sư và sinh viên không được phép suy nghĩ tự do.

Có lẽ đây là lý do tại sao tuyệt đại đa số các quốc gia Đông Á khác, những quốc gia chiếm tỉ lệ nổi bật trong số 400 đại học hàng đầu – Nhật Bản (với 13 đại học) và Nam Hàn (6) – cũng lại là những nền dân chủ vững mạnh. Có thể biệt lệ duy nhất là quốc gia-đô thị nhỏ bé độc tàiSingaporecó hai đại học nằm trong danh sách ưu tú nói trên – một thành công rất ấn tượng. Tuy nhiên, đây chỉ là một biệt lệ – nhất là khi người ta nhận thấy rằng đại đa số các cơ sở giáo dục trong số 400 đại học hàng đầu vẫn là từ các quốc gia dân chủ Tây Âu và Bắc Mỹ. (Mỹ chiếm đến bảy trong số 10 đại học hàng đầu thế giới và 76 trong 100 đại học hàng đầu).

Dĩ nhiên, chúng ta có thể nhìn vấn đề này theo một chiều hướng ngược lại: Trong số các nước độc tài trên thế giới, chỉ có Hoa Lục là nước duy nhất có một sự hiện diện đáng kể nào đó trong số 400 đại học hàng đầu. Chỉ có hai đại học từ Liên bang Nga lọt vào trong danh sách nói trên. Tại Trung Đông, cả Israel lẫn Thổ Nhĩ Kỳ đều có một số trường trong danh sách, nhưng Ả Rập Saudi và Iran mỗi nước chỉ có được một trường. (
Vâng, đúng vậy: Toàn bộ thế giới Ả Rập, một khu vực có thời là kho chứa tri thức nhân loại, chỉ chiếm một trong số 400 đại học hàng đầu của thế giới
).

Có lẽ các nhà lãnh đạo độc tài phải nhìn kỹ hơn nữa đại học số 1 trong bản nghiên cứu: California Institute of Technology, viết tắt Cal Tech (Học viện Công nghệ
California). Như Baty nhận xét, Cal Tech được nổi tiếng không những chỉ nhờ đường lối học tập sáng tạo (theo đó từng nhóm nhỏ sinh viên tích cực tham gia giải quyết các vấn đề, hơn là chỉ lắng nghe các bài giảng một cách thụ động, với một đội ngũ các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới), mà lại còn nhờ tinh thần sáng tạo một cách tự do, kể cả việc ưa chuộng các trò tinh nghịch và những chuyện điên rồ. Tinh thần này cũng được áp dụng tại MIT (đứng thứ 5 trên bảng xếp hạng), một cơ sở đại học rất tự hào về đường lối giảng dạy phi truyền thống – cũng như một lịch sử phong phú liên quan các vụ tin tặc.

Một đại học nghiên cứu thành công, Baty lý luận, phải cho phép “các giáo sư đi theo cái mũi của mình và suy nghĩ những chuyện trên trời dưới bể”. (
Trong văn cảnh này, tôi nghĩ không phải là một trường hợp tình cờ mà các nhân vật chính trong hài kịch TV Mỹ “Thuyết Big Bang”, một hài kịch ca ngợi tính cách khờ khạo do việc đam mê khoa học chống lại các tín điều mông muội, đều là các sinh viên cao học tại Cal Tech
).

Dĩ nhiên, không phải mọi việc đều là lạc quan tại các đại học Anh, Mỹ, như Baty nhanh chóng vạch rõ. Các chi phí đang tăng cao. Các quỹ nghiên cứu ngày càng tập trung vào những mục tiêu hạn hẹp, lấy mất ngân sách của các loại nghiên cứu cơ bản vốn rất cần thiết cho những khám phá to lớn. Và phải nhìn nhận, ngoài ra còn có sức ép cạnh tranh đang gia tăng từ các đại học mới trên bối cảnh toàn cầu.

Sự kiện này nhất định không phải là lý do để dao động quá đáng. Trái lại: Các đại học đã được xây dựng ổn định phải hoan nghênh sự cạnh tranh này (đấy là chưa nói đến các khả năng hợp tác mới mẻ). Nhưng chắc chắn điều này không có nghĩa là những trường có truyền thống nghiên cứu thành công nhờ không bị hạn chế sẽ quên mất những giá trị đã đưa chúng đến địa vị ngày nay. Tự do chính là không khí mà các tư duy tốt đẹp cần đến để thở.

C. C.

Christian Carlyl là nhà nghiên cứu thâm niên tại Legatum Institute, thường đóng góp bài vở cho Foreign Policy, và cũng là nhà nghiên cứu thâm niên tại MIT Center for International Studies (Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế của Đại học MIT).

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

Sự khủng hoảng về Văn học và nhà văn



Để hình thành một nhà văn, cũng cần có một quá trình, trong đó trước tiên là cơ duyên được hấp thụ một nền giáo dục thích hợp.

“Từ thế kỷ 13, nước Việt đã có truyền thống giáo dục như thế, sao đến thế kỷ 21, lại sa sút trầm trọng – câu hỏi này ai trả lời được?” là một nan đề nêu lên khi báo Sài Gòn Tiếp Thị ghi lại quan điểm giáo dục của nhà văn Nguyên Ngọc qua bài báo tựa đề “Từ trí tuệ Trần Nhân Tông đến trí tuệ Việt Nam 2012.”

Bài báo kể rằng, một lần nhà văn Nguyên Ngọc gặp câu hỏi từ nhà báo Nam Dao, đại ý là các văn nhân nước ta sao cứ giống Trình Giảo Kim, chém đúng ba búa rồi bỏ chạy, chẳng ai đủ sức đi đường dài mặc dù xã hội ngày càng nhiều những vấn nạn, vấn đề mới nảy sinh!

Nhà văn Nguyên Ngọc nói, theo báo SGTT:
“...Một nhà văn viết bằng gì? Theo tôi, có ba cái chính: tài năng “trời cho”, sự trải nghiệm hay “vốn sống”, và cái thứ ba là nền tảng văn hoá dân tộc và nhân loại mà anh ta có được, anh ta “đứng” trên đó để tiếp tục đi tới.

Lớp người trẻ cầm bút ở Việt Nam hiện nay thiếu hụt hơn cả chính là cái thứ ba này. Thử nhìn lại cha ông chúng ta, những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương… mà xem. Khi họ cầm bút thì đằng sau lưng họ là cả một cái vốn văn hoá khổng lồ của phương Đông. Nền giáo dục thời đó đã cho phép họ chiếm lĩnh gần như toàn bộ những đỉnh cao nhất của văn hoá nhân loại (hiểu ở nghĩa đối với chúng ta thời ấy chỉ bao gồm Trung Hoa và Ấn Độ, với Nho giáo và Phật giáo). Chính trên cái nền tảng vĩ đại đó mà họ phát huy tài năng trời cho và vốn trải nghiệm sâu sắc của họ, tạo nên những tác phẩm có tầm mức kinh điển của thời đại họ. Qua đến thế hệ nhà văn thời Pháp thuộc thì nền tảng của họ là truyền thống văn hoá cũ cộng với tri thức mới do nền Tây học mang lại. Họ cũng có những đóng góp tầm cỡ, như Thơ mới, tiểu thuyết… Sự hụt hẫng của lớp người cầm bút hiện nay ở Việt Nam chính bởi toàn bộ cái vốn văn hoá dân tộc và nhân loại mà các thế hệ trước có thì đến nay họ không còn có được nữa. Ở đây đương nhiên có vấn đề của nền giáo dục trong nước suốt nhiều chục năm qua. Đó là thời gian có thể nói là chúng ta gần như không có đại học thực sự. Anh Hoàng Ngọc Hiến gọi rất đúng đại học trong nước là trường “phổ thông cấp bốn”. Chỉ xin lấy một ví dụ: trong nền giáo dục ở mọi cấp, gần như hoàn toàn không dạy triết học. Tất nhiên có môn gọi là “triết học Mác – Lênin”, nhưng môn này không được giảng như triết học mà chỉ là những khoá huấn luyện chính trị rất sơ đẳng. Thế cho nên những người cầm bút thuộc thế hệ trẻ trong nước hiện nay có thể nói là hoàn toàn không hề được tiếp cận với di sản triết học nhân loại, cả phương Đông lẫn phương Tây. Thật khó mà tưởng tượng được một nhà văn mà không có chút vốn triết học nào!”

Ông Nguyên Ngọc đã từ lĩnh vực văn chương đi thẳng vào vấn đề nền tảng của người học hiện nay, khi mà cái cần nhất thì chúng ta không học (và không được dạy), cho nên người làm nghề gì cũng thế, chứ không chỉ nghề viết, không có nền tảng, muốn tiến thêm sẽ hụt hẫng. Lỗ hổng trong nền tảng quá lớn phải chăng là nguyên nhân mà chỉ số trí tuệ Việt Nam (bậc 76) vừa rồi tụt hạng thấp nhất trong các năm, thua Thái Lan (bậc 57) và Malaysia (64,8).


Phần lớn công chúng cho rằng, để khắc phục tình trạng này, chỉ có nhờ vào hệ thống giáo dục thay đổi thực sự. Chúng ta cứ hy vọng vào điều này đi, dù rằng nếu có chỉ số hy vọng, thì có lẽ Việt Nam sẽ xếp thứ nhất, thứ nhì chăng!
Dân tộc Việt không thiếu danh nhân đáng tự hào. Như Trần Nhân Tông, một vì vua cách đây 700 năm một lần nữa được vinh danh khắp thế giới khi đại học Harvard (Mỹ) thành lập viện Trần Nhân Tông, tổ chức giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải hàng năm dành trao cho những con người bằng hành động và ảnh hưởng của mình có đóng góp nổi bật cho sự nghiệp hoà giải và yêu thương nhân loại… Điều gì đã khiến những nhân vật tài danh xuất phát từ ngôi trường đại học danh tiếng, nơi đào tạo hàng vạn thế hệ nhân tài cho thế giới lựa chọn Trần Nhân Tông? Điều gì nếu không phải chính là trí tuệ toả sáng của ông?”

Bài viết trên báo SGTT còn dài, ghi thêm phân tích rằng từ “thế kỷ 13, nước Việt đã có truyền thống giáo dục như thế, sao đến thế kỷ 21, lại sa sút trầm trọng...”

Ai đã làm hỏng từ thế kỷ 21? Nhà văn Nguyên Ngọc không nói cụ thể, nhưng nhắc rằng hiện đã có “Viện Trần Nhân Tông (Trần Nhân Tông Academy) được thành lập bởi một nhóm nhà nghiên cứu tại trường đại học Harvard, do giáo sư Thomas Patterson làm chủ tịch... Ngày 22.9, viện đã trao giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải lần đầu cho Tổng thống Myanmar U Thein Sein và chủ tịch đảng đối lập Aung  San Suu Kyi.”

Ai đã làm giaó dục Việt Nam sa sút trầm trọng? Câu trả lời là ai cũng biết nhưng không ai có thể nói thẳng ra !

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Âm nhạc và toán pháp

  Âm nhạc và toán pháp


Có người bảo rằng “âm nhạc là kiến trúc của âm thanh”. Ðịnh nghĩa ấy nhấn mạnh đến một sự phân bố có chủ đích nào đó của âm thanh thì mới thành nhạc.
Nhiều người khác thì nói đến toán pháp trong cách phân bố này. Những khái niệm có vẻ trừu tượng đó chỉ phản ảnh mối quan hệ rất gần gũi giữa toán và nhạc.
Người viết không thuộc vào thành phần giỏi toán. Khi xưa đến giờ hình học hay đại số là lại ngao ngán và cố học thuộc lòng như là để trả nợ. Nhưng cũng biết rằng các em nhỏ giỏi toán thường cũng dễ học và dễ thành công với âm nhạc. Qua mấy chục năm dạy dương cầm thì toán pháp và cách đếm cũng là tiêu chuẩn thẩm định cái khiếu âm nhạc của học trò khi bắt đầu ngời trước phím đàn. Cũng vì vậy mà chỉ dám nhận dạy đàn những em nhỏ đã bắt đầu biết đếm.
Những người giỏi toán thường nhìn thấy sự hài hòa của các con số và sự hài hòa ấy có góp phần đáng kể cho sự cảm nhận về nét hài hòa của âm thanh, tức là nhạc.
Khi dạy đàn và phải giải thích sơ qua về ký âm pháp, một trong những chủ điểm mà cô giáo phải nhấn mạnh cho học trò là cách đếm thời gian, từ đó mới ra nhịp, tiết và các dấu hiệu như nốt đen nốt trắng. Nhìn học trò vừa ngó vào trang sách nhạc vừa gõ trên phím với đôi môi mấp máy đếm nhịp mình lại nhớ đến những lúc chính mình vã mồ hôi trong giờ học toán!
Nếu chính mình lại không giỏi toán, có khi còn sợ toán nữa, thì làm sao giúp các em nhỏ thích toán và tìm thấy niềm vui của các con số trong âm nhạc? Câu hỏi có vẻ khô khan này thật ra lại rất phù hợp với hoàn cảnh ngày nay của Hoa Kỳ.
Trong lãnh vực âm nhạc, ngày nay người ta ít soạn nhạc hoặc viết hòa âm theo kiểu xưa, tức là bằng tay và bằng cảm hứng của nghệ thuật, mà lại tận dụng kỹ thuật âm thanh điện tử và vì thế càng thiên về lối tính toán bằng con số. Nhưng cùng lúc đó, người ta nghiệm thấy một điều đáng buồn là trẻ em Mỹ ngày nay lại rất kém về toán. Theo các công trình nghiên cứu về sư phạm thì trong hơn ba chục nước dẫn đầu về kỹ nghệ, trẻ em Hoa Kỳ có khả năng toán nằm dưới mức trung bình! Chuyện này kể ra thì hơi lạ vì nước Mỹ nổi tiếng với các nhà bác học có thể phóng một cái xe không người lái mà đầy những tai mắt tinh tường lên tới nguyệt cầu và Hỏa tinh!
Trong khi ấy, chúng ta cũng không nên lo ngại gì khi các học giả về tâm lý trẻ em bảo rằng năng khiếu về toán ở lớp mẫu giáo mới là tiêu chuẩn tiên đoán chính xác nhất về tương lai học vấn của các em. Cách đếm khi mới chập chững lại còn quan trọng hơn khả năng đánh vần hoặc sức tập trung vào những gì được cô giáo giảng dạy.
Chính vì vậy mà người viết càng tò mò về phương pháp kích thích sự quan tâm của các em nhỏ vào con số, vào toán pháp. Một cơ hội để tò mò là mình hiện đang cho học trò nghỉ vài tháng khi cô giáo chưa cử động bình thường vì tai nạn trong vườn. Một lý do khác là vì lâu lắm rồi, đã có lần người viết yêu cầu một em nhỏ học đàn giảng lại cho mình một bài toán đại số, theo kiểu Mỹ!
Khi yêu cầu học trò suy nghĩ và dạy lại cô giáo về bài đại số thì cũng là lúc giúp cho em nhỏ ôn bài và thích thú với vai trò mới. Hãnh diện về sự hiểu biết của mình, em nhỏ càng học đàn và học toán với sự say mê.
Với các em nhỏ, điều tối kỵ là khi cho các em nghĩ rằng toán pháp là cái gì đó rất khó đến nỗi chính cô giáo cũng sợ! Khi thấy người lớn mà còn lè lưỡi về toán thì các em sợ theo và lẩn tránh toán pháp ngay trong tiềm thức.
Ngược lại, mình nên giúp các em có cơ hội đùa nghịch với con số bằng cách đếm đồ vật. Từ đếm kẹo đến đếm nốt nhạc, từ cách xếp lại đống đồ chơi hay chồng sách nhạc. Tháng trước, em học bài số mấy, ở trang nào? Qua tháng sau, nếu mà giỏi em sẽ học đến bài nào?
Cách đếm nhịp cũng là một trò chơi với con số. Một nốt trắng bằng mấy nốt đen, và mấy nốt móc? Ðoạn nhạc này có mấy trường canh thì lại trở về giai điệu cũ? Khi dùng cái metronome để đếm nhịp thì cũng là lúc giúp cho các em vừa đếm vừa phân biệt được nhịp tiết nhanh hay chậm.
Ðến tuổi trung học thì mình có thể nói đến cái khuôn thước vàng của toán và nhạc và giải thích thế nào là một nhạc khúc có “carrure” cân xứng, với đoạn vào đầu, mấy lần chuyển cung thì trở về điệp khúc. Chính là qua những lần chỉ dạy rất sơ đẳng ấy mà mình còn cảm nhận được rõ ràng hơn sự dụng công của người soạn nhạc.
Ðến lớp dạy hát cũng thế, cách ngắt câu hay lấy hơi trong nốt lắng cũng là một dịp cùng đếm nhịp tiết để bắt vào câu hát, hoặc giữ tiếng ngân cho đủ lâu đủ dài.
Lóc cóc một tay trên máy, người viết này bỗng nghĩ đến triết lý.
Trên đỉnh cao của khoa học và âm nhạc, nhiều người đã thấy ra sự hài hòa của vũ trụ, hay bàn tay kỳ diệu của một vị Thượng Ðế nào đó. Những con người tầm thường như chúng ta thì chỉ cảm được bằng trực giác một trật tự nào đó của âm thanh hay con số, hoặc kích thước của thời gian.
Nếu mình cố gắng truyền đạt được cho các em những cảm nhận đó thì cũng là điều có lợi. Dù chẳng nhờ vậy mà tìm ra Mozart hay Einstein thì cũng giúp cho các em có một tuổi hoa niên phong phú hơn. Sau này, nếu các em lại gặp được thày giỏi thì dễ trở thành người giỏi giang cho xã hội.
Người viết đã nhìn thấy nhiều thế hệ học trò về sau thành đạt và mỗi lần như vậy là lại bồi hồi nhớ đến cách đếm tiếng động của thời gian. Vì thế mới có bài tạp ghi này.
 Quỳnh Giao