Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

"Bệnh ĐỒNG TÍNH" ..GHÊ QUÁ !


Học trò đồng tính, thầy cô lạc hậu 20 năm
 
Bacsigiadinh.com - Thầy cô và người lớn có đang chững lại phía sau, trong khi giới trẻ Việt đã bắt đầu tỏ ra cởi mở và thấu hiểu?
 
Một ngày trước dịp kỉ niệm 22 năm ngày 17/05/1990 - ngày mà tổ chức Y tế Thế giới WHO đã loại "đồng tính luyến ái" ra khỏi hạng mục bệnh tâm lý - trên mạng xã hội tại Việt Nam lan truyền một câu chuyện hư cấu được viết bởi một blogger đồng tính được biết tiếng. Câu chuyện như sau:
Tôi thấy chị thường ủng hộ những người đồng tính.
- Ừ thì sao?
- Chị là les hả?
- Đâu, tôi vẫn yêu chồng tôi lắm.
- Hay chồng chị là gay?
- Ôi, ông ấy bớt mê gái tôi càng mừng.
- Chẳng nhẽ thằng nhóc nhà chị mới mấy tuổi đã có biểu hiện...?
- Biểu hiện gì cơ?
- Nó thích mặc váy, nghịch đồ trang điểm hay chơi búp bê không?
- Không, không và không.
- Ơ, thế mắc gì chị ủng hộ dân đồng tính làm gì?
- Tôi có mấy người bạn là gay, lesbian, tôi thấy họ yêu nhau hạnh phúc thì tôi ủng hộ.
- Chị không sợ các con chị thấy thế, mai mốt học đòi làm dân đồng tính à?
- Không. Học đòi làm sao được? Bây giờ cháu nó gay, thấy cảnh nam nữ hôn nhau, chẳng nhẽ nó cũng học đòi thành straight (giới tính thẳng - chỉ những người có xu hướng tình dục dị tính - PV)?
- Tôi vẫn thấy ghê lắm.
- Ghê gì? Vậy hành động đánh đập, ném đá, chửi bới, xúc phạm người ta thì không ghê? Giả sử ai khi không nói chị "ghê lắm" thì chị có buồn không?
- Chẳng nhẽ chị muốn con chị bị gay, les?
- Đó không phải là chuyện muốn, càng không phải "được" hay "bị".
- Vậy nếu cho chị được quyền chọn giữa việc con trai gay và không gay thì chị chọn bên nào? Bắt buộc chọn nhé.
- Tôi mong con tôi có cuộc sống tốt đẹp và yên bình. Thế nên nếu chúng giống số đông, tôi sẽ bớt lo hơn, vì khả năng chúng bị quấy nhiễu sẽ giảm đi. Nhưng nếu con đồng tính, tôi càng thương nó hơn, vì nó phải là đứa trẻ can đảm khi đối diện với nhiều bất công ngu xuẩn ngoài xã hội.
- Chị không muốn có cháu bồng à?
- Nói gỡ, nhỡ nó hay vợ nó vô sinh thì sao? Không phải cái gì "muốn" cũng được đâu chị ạ.
- Nhưng trai gái quen nhau thì vẫn dễ có cháu hơn chứ!
- Nếu nó thích có con, tôi tin nó sẽ có cách.
- Chị thật lạc quan quá...
- Không lạc quan thì sao? Chẳng nhẽ khóc? Khóc xong thì thằng bé sẽ mê gái à?
- Chị không xấu hổ với bà con lối xóm?
- Đèn nhà ai nấy sáng, cớ gì phải xấu hổ? Mình nuôi sao cho con mình cao lớn, tài giỏi, biết cách cư xử ngoài xã hội... Chừng nào con tôi ăn chơi lêu lổng, hư thân mất nết, ức hiếp kẻ khác thì tôi mới phải mắc cỡ, vì tôi đã dạy con không tốt.
- [Thở dài] ... Thật ra thằng bé nhà tôi thích chơi đồ hàng với đám con gái chị ạ.
- Haha, chị cứ lo xa. Biết đâu nó thích nhỏ nào trong nhóm đó? Straight, gay, les hay bisexual (song tính - PV) vốn là bản chất rồi. Đến khi tụi nó dậy thì, bản chất trỗi dậy thì chị có ngăn cản cũng chẳng được. Thôi thì hãy yêu con đúng nghĩa, yêu nó như chính con người nó.
- Ừ... Chắc vậy.

Đoạn hội thoại đã nhanh chóng lan truyền trên các tài khoản Facebook và nhận được vô số ủng hộ. Cá biệt, có trang nhận được gần 1000 lượt "like" tỏ thái độ đồng tình. Trong bình luận, giới trẻ cũng cho rằng, việc cộng đồng chấp nhận và không kì thị người đồng tính là xu hướng tiến bộ của xã hội. Không ít bạn cũng chia sẻ những kiến thức khoa học mà mình được biết. 

 
AJ - một người đồng tính nam trẻ tuổi vô gia cư trên đường phố L.A, ảnh
chụp cho bài báo "Young, gay and homeless in L.A. County"
trên tờ Los Angeles Times (12/2010)

Thầy cô chưa cập nhật kiến thức 20 năm?

Tuy nhiên, một cuộc điều tra mới nhất từ một số tổ chức về sức khỏe, văn hóa, gia đình và giới tính tại VN (CCIHP, CEFACOM, ISEE, ISE...) cho thấy, trong học đường, việc kì thị học sinh đồng tính không chỉ là vấn đề giữa các em, mà còn là từ phía thầy cô, những người có nhiệm vụ hướng dẫn học trò về tri thức và nhận thức.

Một học sinh Việt Nam thuật lại về bài kiểm tra giới tính trên lớp và tranh luận với giáo viên của mình, xảy ra vào tháng 4/2012:
 (Ngày 18/4) Hôm vừa rồi lớp mình cô có cho làm một bài "Giáo dục giới tính" lấy điểm 15p. Trong đề có câu "Đồng tính là một bệnh?... A: Đúng....B: Sai...." Mình chọn "B:sai" nhưng đáp án cô đưa ra là "A: Đúng". Trước đó mình cũng đã tìm hiểu về vấn đề này thì thấy có nhiều nguồn thông tin đưa ra chứng minh rằng đồng tính không phải là một bệnh. Vậy là cô mình sai phải không mọi người?
 (Ngày 19/4) Mình cũng đã nêu thắc mắc này với cô nhưng nói là phản đối thì không đúng. Cô nói là "đồng tính không phải là bệnh thì là gì?". Mình cũng đã đưa ra những kiến thức mà mình đọc được nhưng xem ra cô không bị thuyết phục lắm...
 (Ngày 21/4) Sáng nay, sau khi thu thập đủ "chứng cứ", mình đem ra nói với cô. Cô đẩy gọng kính lên rồi nhẹ nhàng bảo: "Em bắt đầu làm cô phải nghi ngờ giới tính của e rồi đấy" (!!!!!!)
Nghiên cứu do CCIHP thực hiện với trên 500 người đồng tính và chuyển giới ở Việt Nam năm 2012 (sử dụng phương pháp trực tuyến là phương pháp thế giới đang cho rằng thích hợp, do khó tiếp cận LGBT) cho thấy, 46% trong số họ đã từng trải nghiệm việc bị phân biệt đối xử và bạo lực với nhiều xu hướng tình dục và cách thể hiện giới của mình, nghiêm trọng hơn 31,2% các trường hợp có ý định tự tử.
 Bạo lực và phân biệt đối xử gây ra bởi các thầy cô giáo và cán bộ trong trường cũng chiếm tới 18% trong các trường hợp. Thiếu nhạy cảm, cũng như không đủ thông tin và kiến thức trong lĩnh vực này, các thầy cô giáo có thể làm tổn thương không chỉ tuổi thơ non nớt của các em mà còn cả cuộc đời sau đó của các em vì những vết thương không thể lành dù sau nhiều năm. 

Một học sinh đồng tính nam viết lại:
 "Nắng chói lòa mắt. Cả không gian quanh phòng học đều im lặng. Nó đứng đó chết trân. Những giọt nước mắt chảy tràn xuống má không làm vơi đi những lời cay nghiệt mà cô giáo đang giành cho nó: Em thật là bệnh hoạn, tôi không ngờ trong lớp học của tôi lại có một người biến thái đến như vậy. Em coi trong trường lớp này có ai như em không? Nếu như hôm nay tôi không đọc được những gì em viết thì tôi không dám nghĩ em lại ghê như vậy. Tôi đọc mà sởn gai ốc. Các em, các em có thấy nó biến thái không? Dạ có - cả lớp đồng thanh". 

Mặc dù trên 80% trường hợp bị bạo lực xẩy ra ngay trong lớp học, hầu hết các trường hợp bạo lực này đã không được phát hiện và xử lý. Trong nhiều trường hợp, do sợ bị kì thị và bạo lực nhiều hơn, các em là nạn nhân của bạo lực đã không dám báo cáo với thầy cô. Ngay cả khi được báo cáo, 44% các trường hợp nói rằng thầy cô đã không làm gì. 16% thậm chí thầy cô còn quay lại khiển trách chính nạn nhân. 
 Cho đến hết ngày 16/5/2012, khoảng hơn 2000 chữ ký đã được thu thập bởi ICS - tổ chức của chính những LGBT tại Việt Nam - cho lá thư gửi tới Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận vì một trường học cởi mở hơn cho người đồng tính và chuyển giới.
 Cũng nhân ngày thế giới phòng chống kỳ thị với người đồng tính, lưỡng tính và chuyển giới 17/05 (IDAHO), phát biểu từ Gevena, giám đốc điều hành của UNAIDS - ông Michel Sidibé cho biết: "Giá trị của xã hội không đo bằng tiền bạc hay quyền lực. Giá trị của xã hội phải được đó bằng cách mỗi con người trong đó được quý trọng thế nào, cho dù có khác nhau về xu hướng tình dục hay vị thế xã hội. Một xã hội thịnh vượng phải là nơi không ai bị loại trừ, mọi người đều được tôn trọng như nhau". 
 (*) LGBT là viết tắt chỉ nhóm người đồng tính nữ (Lesbians), đồng tính nam (Gays), song tính (Bisexuals) và chuyển giới tính (Transgender).-
Vietnamnet

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

PHIÊN ÂM NGOẠI NGỮ: TRẺ CHẬM KHÔN

“Loạn” phiên âm: Hậu quả nghiêm trọng

Các nhà giáo dục, ngôn ngữ học và ngay cả học sinh đều khẳng định cách phiên âm theo sách giáo khoa (SGK) hiện nay gây nhiều khó khăn, lệch lạc trong tiếp xúc ngôn ngữ.  

“Loạn” phiên âm: Hậu quả nghiêm trọng
Học sinh lớp 3 đã tiếp xúc với ngoại ngữ nên các em có thể đọc được những tên riêng theo chữ Latin -
Ảnh: Đào Ngọc Thạch 
Khó khăn khi tìm kiếm tư liệu
Cách phiên âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt như hiện nay khiến nhiều học sinh phải loay hoay rối mù khi tìm kiếm các địa danh và nhân vật lịch sử.
Đặng Thanh Nga - một cựu học sinh Trường THPT Quang Trung (Hà Nội), cho biết: “Lớp 11, khi làm thuyết trình về đề tài Những thành tựu văn hóa thời cận đại, nhóm của em đã rất khó khăn trong việc tìm kiếm tư liệu trên internet về các danh nhân trong bài chỉ vì cách ghi tên như trong SGK. Chúng em phải mất khá nhiều thời gian để tìm từ nguyên dạng, rồi sau đó mới có thể tìm kiếm được thêm thông tin vì chẳng ai dùng cách viết như SGK”. Trên một diễn đàn về vấn đề này, một học sinh cho hay: “Hôm thi văn vừa rồi có bài liên quan đến tác giả Ernest Hemingway, em chỉ nhớ mỗi tên tiếng Anh nhưng buộc phải viết bằng phiên âm. Thế là em phải chép tên phiên âm từ bạn ngồi bên cạnh. Tên của tác giả này được phiên âm là Ơ-nít Hê-Minh-Uê”.
Nhà giáo Đặng Đình Đại - Hiệu trưởng Trường THPT Vạn Xuân (Hà Nội) - bày tỏ: “Việc phiên âm danh từ riêng ra tiếng Việt nhằm đáp ứng nhu cầu của đại đa số người dân. Song hiện nay, khi dân trí đã được nâng lên, cách viết phiên âm đã gây khó khăn không nhỏ trong việc tìm kiếm thông tin và bồi dưỡng tri thức. Do vậy, nếu phiên âm thì nên bám sát vào cách phát âm của nguyên ngữ và cần trích dẫn thêm từ tiếng Anh”. 
Giảm giá trị của tiếng Việt
Tiến sĩ Huỳnh Thị Hồng Hạnh - Phó trưởng khoa Văn học và ngôn ngữ Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), khẳng định: “Việc phiên âm không chính xác và thiếu thống nhất các từ ngữ nước ngoài trong các văn bản chính thống, nhất là trong SGK sẽ để lại những hậu quả nhất định. Xét về mặt giáo dục, sự tùy tiện trong ngôn ngữ sẽ vô tình tạo cho học sinh thói quen sống tùy tiện, điều này ảnh hưởng không tốt tới việc giáo dục tính cách cho trẻ. Bên cạnh đó, nếu không có sự thống nhất sẽ khiến người sử dụng rơi vào tình trạng lúng túng, và đôi khi việc tiếp cận với thông tin sẽ rất khó khăn. Sâu xa hơn nữa, cách phiên âm không chính xác sẽ làm cho tiếng Việt bị giảm bớt phần giá trị”.
Cùng quan điểm này, PGS-TS Vũ  Thị Thanh Hương - Trưởng phòng Ngôn ngữ học ứng dụng, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam - cho rằng: “Hơn bao giờ  hết, chúng ta cần có một bộ quy tắc về việc phiên âm tên riêng, thuật ngữ khoa học để mọi người cùng sử dụng, tránh tình trạng rối ren như hiện nay. Đấy cũng là cách bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt”.
Ở góc độ tiếp cận ngôn ngữ, bà Mỹ Dung - Chủ nhiệm câu lạc bộ tiếng Anh IEQ tại Hà Nội, cho rằng: “Phiên âm kiểu như SGK hiện nay dễ làm trẻ phát âm lệch lạc, khả năng sửa sẽ khó vì đã thành thói quen. Nên cho trẻ tiếp xúc với ngôn ngữ từ sớm và từ nguồn chính xác thì sau này trẻ sẽ phát triển khả năng ngôn ngữ tốt chuẩn”.
Trở ngại khi viết chính tả
Bà  Lê Thị Ngọc Điệp - Hiệu trưởng Trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q.1 (TP.HCM) - cho rằng: “Tại TP.HCM, học sinh lớp 1 của nhiều trường đã học tiếng Anh rồi, cả nước sắp tới sẽ áp dụng dạy tiếng Anh từ lớp 3. Theo tôi là nên để nguyên bản các danh từ, cần thống nhất phiên âm các danh từ có gạch nối hay không. Chứ nếu như tình trạng hiện nay sẽ gây khó cho học sinh trong lúc viết chính tả vì các em sẽ không nhớ lúc nào là nên viết có gạch ngang và lúc nào không”. Bà Nguyễn Thị Hồng Ngọc - giáo viên Trường tiểu học Tân Túc, huyện Bình Chánh (TP.HCM) - nhận xét: “Phiên âm có ưu điểm, dễ đọc dễ thuộc nhưng điều này sẽ làm cho học sinh không biết được từ nguyên bản”.
Các giáo viên đều thừa nhận ngày nay học sinh tiểu học có thể tiếp cận với từ nước ngoài theo chữ Latin. Bà Ngọc chia sẻ: “Thật tình trong quá trình dạy, tôi cũng thấy nhiều bất cập, ví dụ như ở bài tập đọc Hơn một nghìn ngày vòng quanh trái đất có phiên âm tên của vị thuyền trưởng người Bồ Đào Nha Ma-gien-lăng (Ferdinand Magellan, người thực hiện chuyến thám hiểm đầu tiên vòng quanh trái đất). Thật ra, học sinh hoàn toàn có thể tiếp cận được nguyên bản. Nếu không, sau này các em quen với phiên âm Ma-gien-lăng, đến khi bắt gặp từ Magellan sẽ nghĩ là 2 người khác nhau”.

T.Nguyễn - L.Giang - M.Luân - H.Ánh

Líu lưỡi
Tên của nhiều nhân vật trên một tờ báo được phiên âm rất ngộ, ví như: Bộ trưởng Tài chính và Kinh tế Ni-giê-ri-a Gô-di Ô-kô-ni-ô I-uy-la; ông An-tơn Buê-nơ - Chủ tịch Hiệp hội Bán buôn, ngoại thương và dịch vụ Ðức; Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Nga Ni-cô-lai Ma-ca-rốp; Tổng thống Hàn Quốc Li Miêng Pắc.
Hay như khi viết về hoa hậu người Anh Danielle Lloyd, một tờ báo đã phiên âm tên các nhân vật “ăn theo” rất vui: “Đa-ni-en Loi sẽ chính thức tổ chức đám cưới với Giêm-mi Ô Ha-ra, cầu thủ của Wolverhampton... Đa-ni-en cũng thay người tình như thay áo. Sau khi chia tay Tét-đi Xê-rinh-ham, người đẹp này trải qua hàng loạt mối tình với các cầu thủ như: Mác-cớt Ben, Ác-măng Trao-rê, Giê-mân Đờ-phâu... và thậm chí là cả ngôi sao nhạc pốp I-rô-ních trước khi nhập vai “người phụ nữ hiền thục” cùng Ô Ha-ra”.

 
Cần chuẩn hóa
Các nhà ngôn ngữ học đều yêu cầu phải thống nhất lối phiên âm trong tiếng Việt theo hướng khoa học và hiện đại hóa, thay hẳn cách phiên âm hiện nay. 
PGS-TS Hoàng Dũng - giảng viên Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, cho rằng: “Nên để nguyên bản tên riêng các từ ngữ có nguồn gốc là chữ Latin. Đối với những ngôn ngữ không phải là chữ Latin như tiếngBungary, Nga, Ả Rập... thì nên chuyển tự sang chữ Latin. Như vậy xem như giải quyết được cái gốc của vấn đề”. Đồng quan điểm,  PGS-TS Nguyễn Văn Huệ - Trưởng khoa Việt Nam học Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM) - nói: “Không nên phiên âm sang tiếng Việt các từ ngữ nước ngoài. Thay vào đó, nên sử dụng từ nguyên ngữ theo hệ thống chữ cái Latin. Bởi lẽ, việc phiên âm ở các vùng miền khác nhau sẽ khó tránh khỏi sự không thống nhất”. TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh cũng nhấn mạnh: “Ngay từ bậc tiểu học, người lớn không nên tạo sự dễ dãi cho học sinh trong việc phiên âm. Tốt nhất nên cho học sinh làm quen với từ nguyên ngữ từ đầu”.
Lo ngại sự bất nhất, TS Hồng Hạnh đề xuất: “Dù phiên âm sang tiếng Việt hay sử dụng từ nguyên ngữ cũng nên có một quy chuẩn chung để tiến hành cho thống nhất và chính xác, ít nhất là trong trường học và trên các phương tiện truyền thông đại chúng”. PGS-TS Dư Ngọc Ngân - Trưởng bộ môn Ngôn ngữ học Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, cũng nhận định: “Hiện nay cách phiên âm trong tiếng Việt hết sức rối ren. Đã đến lúc cần phải có tính thống nhất. Cần phải có một bộ phận, cơ quan có thẩm quyền đứng ra soạn thảo, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể, áp dụng chung cho tất cả các cơ quan ban ngành”. PGS-TS Trần Thanh Ái - giảng viên Khoa Sư phạm Trường ĐH Cần Thơ, đề xuất: “Hiện nay, chúng ta cũng cần phải thực hiện phiên âm theo một nguyên tắc chung, áp dụng cho mọi cơ quan, ban ngành thì mới mong có tính thống nhất. Muốn làm được điều này, chúng ta có thể đề xuất thành lập một ủy ban chỉnh đốn tiếng Việt hoặc Ủy ban Ngôn ngữ tiếng Việt..., mời những chuyên gia đầu ngành, đa lĩnh vực cùng bàn thảo để mang tính dân chủ. Sau đó, đưa ra một quy tắc thống nhất”.
Minh Luân - Hà Ánh
( Nguồn: Thanhnien Online)


Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012


 Báo SGGP số ra ngày thứ Ba 10/4/2012 và thứ Tư 11/4/2012 đã đăng 2 bài viết về Diện Chẩn : THỰC HƯ DIỆN CHẨN - HIỆU QUẢ CHƯA ĐƯỢC MINH ĐỊNH. Là một người đọc, chúng tôi xin có vài suy nghĩ như sau.

DIỆN CHẨN - THẾ NÀO LÀ THỰC, THẾ NÀO LÀ HƯ ?


THẾ NÀO LÀ MỘT PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU CÓ GIÁ TRỊ ?
Từ xưa tới nay, khi nói đến Y học trị liệu thì ai cũng biết rằng có hai hệ thống lớn là Tây Y và Đông Y. tuy cùng mục đích là chữa bệnh, cứu người thế nhưng mỗi hệ thống  lại có những nguyên tắc lý luận, phương pháp, kỹ thuật, phương tiện chăm sóc và điều trị khác nhau, không thể dùng nguyên tắc lý luận, quan điểm học thuật của Tây Y để đánh giá Đông Y là mơ hồ, kém giá trị và dĩ nhiên cũng không thể đứng trên quan điểm Đông Y với nguyên lý Âm Dương để phê phán Tây Y chỉ biết dựa vào thuốc men, mổ xẻ và máy móc !
Ngoài ra, trong từng khu vực địa lý, trong mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng dân cư lại có những phương pháp phòng chống và điều trị bệnh tật  khác nhau, đôi khi có những bí thuật không thể dùng lý luận khoa học giải thích được, mặc dù hiệu quả thì không thể chối cãi. Và dĩ nhiên cũng không thể đứng trên nền tảng của Tây y hay Đông Y để phê phán, người ta chỉ có thể phê phán những kẻ lợi dụng các liệu pháp này để mưu cầu danh lợi, mà điều này thì trong bất cứ hệ thống trị liệu nào cũng có những kẻ như vậy.

Với Tây y, một ngành trị liệu với hệ thống lý luận được xem là mạch lạc và khoa học cũng đã từng tồn tại những định kiến sai lầm về các phương pháp chữa bệnh, không phải chỉ có từ thời xa xưa, khi  chưa tìm ra vi trùng để người ta đưa ra nhận định về những nguyên nhân tự nảy sinh của các chứng bệnh, mà ngay cả với các phương pháp chữa bệnh ở thế kỷ 19, khi người ta cho rằng muốn chữa bệnh phải trích máu độc ra khỏi cơ thể người bệnh, cho đến khi nhờ nghiên cứu của bác sĩ Pierre Louis năm 1836 mới biết rằng đó là một kỹ thuật  nguy hiểm mà lẽ  ra phải tiếp thêm máu. Đến khi việc  tiếp máu cho thấy có tác dụng rõ rệt, nó cũng phải mất gần 100 năm mới được giới y khoa chấp nhận. Thế nhưng khi việc tiếp máu đã trở thành một cách điều trị được xem là hiệu quả và có giá trị cao thì mới gần đây, qua một nghiên cứu lâm sàng năm 1999 có tựa là “Transfusion requirements in critical care” được công bố trên tập san New England Journal of Medicine cho thấy ngoại trừ các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tính, thì việc truyền máu cho những bệnh nhân nguy kịch với một liều lượng hemoglobin trung bình có thể làm tăng nguy cơ tử vong! đó là một thực tế đã làm chấn động các bác sĩ chuyên ngành hồi sức trong các bệnh viện. 

Một thí dụ khác, từ lâu giới bác sĩ Tây Phương thường khuyên các bà mẹ nên cho trẻ em sơ sinh ngủ nằm sấp, vì họ tin rằng cách nằm ngủ này làm giảm xác xuất trẻ em chết đột ngột (SIDS) mãi cho đến thập niên 1980, sau một loạt nghiên cứu lâm sàng mới cho thấy rõ ràng các trẻ sơ sinh nằm sấp có nguy cơ bị chết cao hơn trẻ nằm ngửa.  Có thể kể ra đây nhiều tình trạng, hay trường hợp cho thấy nhiều phương pháp trị liệu của một nền y khoa truyền thống không có hiệu nghiệm như chúng ta nghĩ. Thậm chí trong quá trình điều trị, người thày thuốc còn có thể có những nhầm lẫn gây tổn thương cho bệnh nhân mà những sai sót trong điều trị này hầu như có thể đọc trên các trang báo hằng ngày.Nhưng điều đó vẫn chưa đáng ngại bằng đã có rất nhiều phương pháp chữa trị trong Tây Y chưa bao giờ được kiểm tra, đánh giá bằng các phương pháp khoa học thực chứng, là phương pháp chứng minh giá trị bằng những chứng cớ thực sự.

Như vậy, ngay chính với các biện pháp trị liệu trong khuôn khổ của một nền y học tân tiến vẫn còn có những phương pháp chưa được khảo nghiệm, vẫn còn nhiều những nguyên tắc nay đúng mai sai hay có những những sai sót trong quá trình trị liệu, vẫn còn rất nhiều bệnh không chữa được, thì hà cớ gì lại lấy những nguyên lý đó để làm thước đo, làm chuẩn mực cho những kỹ thuật hay phương pháp điều trị không sử dụng những dược liệu, dụng cụ cũng như biện pháp chữa bệnh của Tây Y để xem đó là những cơ sở lý luận truyền thống phải tuân thủ? 

Nếu không thể dựa trên những cái gọi là cơ sở lý luận truyền thống thì ta sẽ dùng cách đánh giá gì để tìm ra độ tin cậy của một phương pháp? Để trả lời câu hỏi này, các nhà khoa học đã  xếp loại những phương pháp nghiên cứu hay điều trị vào 6 nhóm có mức độ tin cậy từ thấp đến cao: 

Mức độ tin cậy thấp nhất đó chính là ý kiến cá nhân của một vài  bác sĩ, hay lương y nào đó, bất kể họ có bằng cấp hay vị trí nào trong các chuyên ngành, nếu ý kiến đó không được chứng minh bằng các chứng cớ khoa học thực chứng! Thế nhưng, đáng tiếc thay hiện nay có rất nhiều những bài báo, phóng sự tậm chí là những nghiên cứu viết về các phương pháp chữa bệnh, lại chủ yếu dựa vào ý kiến của một vài  nhà chuyên môn ( mà có khi chỉ dám nói một cách chung chung là bác sĩ này, lương y kia …) đưa ra những nhận xét hết sức chủ quan và lại xem đó là một yếu tố đánh giá đáng tin cậy. 

Trong khi đó, yếu tố đánh giá có mức độ tin cậy cao nhất là những kết quả phân tích khuynh tâm (metaanalysis) Đây là một nghiên cứu dựa trên nhiều nghiên cứu. Trong thực tế, đây là một sự tổng hợp và hệ thống hóa kết quả từ nhiều nghiên cứu khác nhau, như tổng kết các kết quả thử nghiệm lâm sàng đối chứng. Như để xác định một phương pháp chữa bệnh có giá trị hay không, người ta sẽ thu thập kết quả từ nhiều nguồn, từ nhiều đối tượng khác nhau, từ nhiều địa phương với những nhà trị liệu khác nhau trên thế giới. Nếu tất cả đều có những kết quả tương tự nhau, dù ít hay nhiều, bởi vì đâu có một phương pháp nào hoàn hảo?  thì cũng đã đem lại độ tin cậy cao nhất cho phương pháp hay kỹ thuật đó. Và khi đã có những thông tin, những nhân chứng, những tài liệu sách vở không chỉ đến từ một địa điểm là Việt Nam, mà còn đến từ rất nhiều nơi trên thế giới, kể cả những đất nước có nền Tây Y tân tiến nhất như Pháp, Mỹ, Cu Ba, Nhật Bản, Australia để làm bằng chứng cho hiệu quả của một phương pháp chữa bệnh xuất phát từ Việt Nam thì tại sao lại không được xem xét, không được nêu ra trong các báo cáo hay trong các bài viết về phương pháp này!  Phải chăng đó là cách làm khoa học? hay chỉ là minh chứng cho sự cố chấp và hẹp hòi, là điều mà các nhà khoa học chân chính đã phải từng bước đấu tranh để vươn lên những tầm cao mới bằng những phát minh mới mẻ và hiệu quả.

THẾ NÀO LÀ MỘT NHÀ PHÁT MINH ?
Khi nói đến phát minh, ai cũng hiểu đó là sự tìm tòi ra cái mới mà từ trước đến thời điểm đó, chưa ai đã tìm ra! Nhưng phát minh không có nghĩa là phải tìm ra một cái mới hoàn toàn mang tính sáng tạo như biến cái không thành cái có vì làm được điều đó, có lẽ chỉ có Thượng Đế ! Mà phát minh là dựa vào những điều đã biết, đã có từ trước  để từ đó có thể dùng óc suy luận, sự tinh tế và cả óc tưởng tượng để tìm ra những quy luật, những nguyên lý mới, những công cụ và những kỹ thuật mới. Chúng ta không thể cho rằng, một nghiên cứu dựa vào các kiến thức, thông tin, hay các lý luận nền tảng đã có thì không thể xem là phát minh, mà phải tính đến các yếu tố mới lạ mà chỉ có nghiên cứu đó đã đưa ra, trước đó thì chưa có và điều đó đã được sự thừa nhận từ nhiều người, từ nhiều giới, từ nhiều quốc gia. Sự phản biện là cần thiết trong khoa học, nếu có ai chứng minh với những bằng chứng chính xác, với những con số thống kê hay những nhân chứng vật chứng là những gì mà một phương pháp được gọi là phát minh là không có gì mới, không có giá trị gì, thì điều đó mới gọi là sự công bằng và khách quan. Còn nếu như chỉ dựa vào những thất bại của phát minh, mà không đếm xỉa gì đến những thành công của nó, nếu chỉ nói rằng nó dựa vào các điều đã có sẵn, mà không thừa nhận những cái mới có thật của nó, thì không chỉ là sự cố chấp, sự ganh ghét mà còn  bộc lộ cái tầm thường về nhân cách và trí tuệ mà thôi.
Như vậy, giá trị của một phát minh chính là cái mới, và cái mới đó có thể dựa trên nền tảng của những cái cũ. Nhưng cái mới thôi chưa đủ, mà đó còn phải là một cái mới hữu ích, cái mới đem lại những kết quả cụ thể có thể nhận được, thấy được, và đây cũng là cơ sở của những phương pháp chữa bệnh mà kết quả là tình trạng khỏe mạnh của người bệnh. Tuy nhiên, phải chăng muốn làm ra được cái mới phải là những người có bằng cấp? có học vị ? còn nếu chỉ là một tay ngang thì sẽ không thể có được những phát minh có giá trị ? Trong khi ai cũng biết, bằng cấp là cái thước đo những kiến thức đã được lưu truyền qua sách vở, qua những lời giảng dạy hay các giáo trình đã được biên soạn kỹ lưỡng trong một số lĩnh vực nhất định, chứ không phải là thước đo cái mới! Và dĩ nhiên không ai có thể đòi hỏi một người phải là bác sĩ, lương y hay có bằng tiến sĩ Y khoa chính quy từ một trường đại học danh tiếng mới được phép nghiên cứu và phát minh những gì thuộc về Y học. Ở đây, chúng ta cũng cần phân biệt một phát minh, nhất là một phát minh bao gồm nhiều kỹ thuật, công cụ khác nhau với một công trình nghiên cứu hay một luận văn tiến sĩ.  Với một công trình nghiên cứu thì có thể không cần có cái mới, và phải dựa trên nền tảng một hệ thống lý luận vững chắc, từ nền tảng này nhà nghiên cứu sẽ đưa ra những đánh giá, những lý luận mang tính phê phán hay một đề xuất thực hành khác, nhưng phải dựa vào những cái đã có, và điều này là hết sức bình thường trong bất cứ lĩnh vực nào. Nhưng để phát minh, tuy có thể dựa vào các nền tảng lý luận, nhưng không nhất thiết phải đi theo những lập luận cứng nhắc của hệ thống lý luận đó, mà điều quan trọng là phải đưa ra được một cái gì mới, chưa từng có trước đây.
Chúng ta không thể phê bình một nhà  phát minh ra một phương pháp chữa bệnh mới là một tay ngang, không phải là y sĩ, lương y, bác sĩ … không biết tí gì về những lý luận cơ sở truyền thống hay không được đào tạo bài bản từ những trường Đại học y dược chính quy, mà phải nhìn vào chính những gì họ phát minh ra, và hơn nữa là tính hiệu quả của nó, mà nếu xét theo tỷ lệ thì chỉ cần đạt đến 60,70% là đã đủ để được công nhận Bởi vì ngay những phương pháp điều trị mới nhất, bằng những phương thuốc đắt tiền và mới nhất, thì hiệu quả cũng chỉ đến thế, vì dù gì đi nữa, nó vẫn còn phải tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, từ cơ địa, thể trạng cho đến tâm lý, sự tin tưởng của bệnh nhân. Chính các bác sĩ cũng phải thừa nhận, yếu tố tâm lý là một yếu tố không thể cân đo, đong đếm nhưng nó quyết định đến gần 50% kết quả trị liệu. Bên cạnh đó, ai cũng biết, sự tin tưởng của bệnh nhân vào thày thuốc cũng là một yếu tố quan trọng.
Như vậy, dù Tây Y hay Đông Y, không chỉ là những kỹ thuật, công cụ hay thuốc men quyết định cho sự thành công của một tiến trình trị liệu, mà còn là cái năng lực và cao hơn nữa là cái tâm của người thày thuốc. Chính điều này mới đem lại sự tin tưởng đích thực, chứ không phải là bằng cấp hay vị trí mà guồng máy truyền thông, quảng cáo cố tình gieo rắc vào tâm lý quần chúng. Những điều đau lòng đã xẩy ra từ những nguồn thông tin không rõ ràng, chủ quan, phiến diện và thậm chí là phản khoa học do giới truyền thông đưa ra nhằm tạo ra những hiệu ứng đám đông, đã xảy ra rất nhiều trên đất nước chúng ta, chưa đủ là những bài học hay sao ?

Hơn thế nữa, nếu áp đặt những tiêu chuẩn để đánh giá một nhà phát minh hay một phương pháp như trên, thì có lẽ nền khoa học nói chung và nền y học nói riêng của thế giới vẫn còn quanh quẩn đâu đó ở cái thời Trung Cổ tối tăm, với những định kiến bài bác một cách cực đoan các phát minh khoa học mới mẻ đã dẫn đến một cuộc cách mạng vĩ đại của thời Phục Hưng, và đưa đến những cuộc cách mạng y học thần kỳ đem lại sức sống cho biết bao con người trên thế giới, mà điển hình như với Louis Pasteur, ông đã được tôn vinh là “cha đẻ của ngành vi sinh vật học” khi chưa bao giờ chính thức học về y khoa và chưa bao giờ có bằng bác sĩ, nhưng vẫn được coi là môt thầy thuốc vĩ đại và là ân nhân của nhân loại.
Nếu chỉ căn cứ vào các cơ sở lý luận truyền thống hay đánh giá con người qua bằng cấp, thì chúng ta sẽ bỏ qua tất cả các nghiên cứu lâm sàng trong một thời gian dài dựa trên các bệnh nhân nghiện ma túy để tìm ra những huyệt đạo mới trên khuôn mặt, là một điều mới lạ xưa nay chưa từng có, mặc dù khái niệm về huyệt đạo đã có từ hàng ngàn năm nay. Chúng ta cũng bỏ qua ba mươi năm nghiên cứu của TS. Bùi Quốc Châu, một nhà phát minh trong quá trình phát triển phương pháp Diện Chẩn từ một huyệt đánh số 1 đi đến vài trăm huyệt trên mặt cho đến hàng chục  đồ hình đồng ứng trên cả con người dựa trên cơ sở lý luận của phản xạ học và nền tảng Âm Dương, hệ thống Tam Giáo và cả với kho tàng văn hóa Việt …từ năm 1980 đến nay, để xem  ông chỉ là một tay ngang không có bằng cấp gì, đã dùng mánh khóe mô phỏng, áp dụng những kỹ thuật đã có sẵn của Đông Y, Tây y  để trở thành một Tiến sĩ chui – chữa bệnh chui chỉ nhằm kiếm vài trăm nghìn đồng một ngày ! 

Ông có thể bịp được hàng chục, thậm chí hàng trăm những người bệnh nhân thất học, nghèo nàn, phải “khúm núm đến trước mặt các con ông, nhét vào dưới các túi dụng cụ những tờ 20, 50 đẫm mồ hôi và nước mắt của họ” để xin chữa những căn bệnh mà nếu họ muốn được điều trị, sẽ chỉ tốn vài trăm ngàn, hay vài triệu đồng tiền thuốc và hàng giờ đồng hồ, đi từ 3,4 giờ sáng để xếp hàng mỗi ngày tại các bệnh viện đã luôn luôn quá tải. Nhưng ông không thể bịp những người nước ngoài, có trình độ học thức và niềm kiêu hãnh của riêng họ, Những người  mà ông đã đứng ra giảng dạy phương pháp chữa bệnh này từ quốc gia này qua quốc gia khác và được họ chấp nhận và khâm phục. Ngoài ra, liệu ông có thể dùng đồng tiền để mua chuộc một bác sĩ nổi tiếng của Pháp, ông Jean Pierre Willem đã viết trong lời tựa của cuốn sách ABC về Diện Chẩn: Căn cứ vào toàn bộ các phát minh của ông, chúng ta phải công nhận rằng Giáo sư Bùi Quốc Châu là một thày thuốc thiên tài và là một ân nhân của nhân loại.. Tất cả những điều đó, một tay ngang nào có thể làm được ?
  
Tại sao không nhìn lại suốt một chiều dài phát triển nền Y học nước nhà, đã có được bao nhiêu phát minh về Y học, đã có được bao nhiêu  phương pháp chữa bệnh  được rất nhiều người tin tưởng và theo học, đã được các bệnh nhân trên tại nhiều quốc gia  trên thế giới vận dụng để trị liệu để đem lại những kết quả cụ thể  là một niềm tự hào và đáng khích lệ của dân tộc và đất nước Việt Nam !
Chúng ta đã vinh danh cho nhiều người Việt Nam mà đa phần được học tập, đào tạo và sinh sống tại nước ngoài khi họ nhận được những bằng khen, những sự tôn trọng cũng của nước ngoài. Thế nhưng khi có một người Việt Nam, sinh sống, học tập và nghiên cứu với những điều kiện hết sức hạn chế tại Việt Nam, đã phát minh ra một phương pháp và được nước ngoài thừa nhận là có giá trị, thì tại sao lại phê bình, đánh giá bằng những quan điểm cứng nhắc, lạc hậu và cố chấp mà lẽ ra phải tạo cho họ những điều kiện tốt đẹp nhất để đem vinh quang lại cho đất nước !

THẾ NÀO LÀ MỘT MÔI TRƯỜNG THUẬN LỢI  ?
Chúng ta đã thấy rằng, dân tộc Việt Nam là một dân tộc thông minh, cần cù, rất kiên nhẫn và vô cùng chịu khó học hỏi, thế nhưng câu hỏi đặt ra là tại sao trong lĩnh vực khoa học nói chung và y học nói riêng, lại không có được nhiều nhà bác học hay những bác sĩ, lương y có được những nghiên cứu, phát minh hay công trình tầm cỡ, đem lại sự tôn trọng của những quốc gia hay dân tộc khác ?
Đây là một câu hỏi không mới, và câu trả lời cũng không có gì là quá khó bởi vì nó đã được chứng minh không phải trong thời hiện đại, mà ngay cả trong quá khứ cũng đã cho thấy, đa phần những tài năng xuất chúng của Việt Nam đã phải sống và là việc trong những điều kiện như thế nào, thậm chí là đã bị vùi dập như thế nào bởi tính ganh ghét, bởi sự cố chấp và bởi tầm nhìn hạn hẹp của những kẻ có chức, có quyền lúc bấy giờ.
Vì thế, mặc dù là một dân tộc với nhiều đặc tính ưu việt, nhưng vì không có được một môi trường thuận lợi để phát triển nên đã không thể sản sinh những anh tài, tuấn kiệt nhất là trong lĩnh vực nhân văn, khoa học và đặc biệt là Y học. Như vậy, thế nào là một môi trường thuận lợi? Một môi trường được xem là thuận lợi khi có được những yếu tố sau đây: 

Đứng về phương diện khách quan là các yếu tố : Cơ sở nghiên cứu hạ tầng đầy đủ, khả năng của người lãnh đạo có cái tâm và cái tầm, có những chính sách quan điểm đúng đắn, có nguồn kinh phí đầu tư thích đáng.
Về phương diện chủ quan thì những người có liên quan trong lĩnh vực đó cần có khả năng phối hợp và những gì họ đưa ra phải có khả năng ứng dụng. 

Như vậy, chúng ta thấy rằng vấn đề không đơn giản bằng những chủ trương duy ý chí hay bằng chỉ đưa ra những phê phán  dựa vào các chuẩn mực truyền thống mà muốn tạo nên một sự phát triển nhân tài, cần phải nhìn nhận những hạn chế về môi trường của mình, để cải thiện hay thậm chí là thay đổi thì mới có thể đem lại cho quốc gia những nhân tài và hơn thế nữa là những kết quả cụ thể từ những phát kiến của họ.  Chúng ta phê phán những cái sai, những điều gian dối nhưng chúng ta cũng phải tạo ra được những môi trường thuận lợi để những phương pháp, những con người có năng lực có thể phát triển, đưa ra những phương pháp mới, đem lại những giá trị không chỉ về mặt tinh thần mà còn cả những giá trị về mặt vật chất cho đất nước và con người Việt Nam. 

Chính GS. TSKH Bùi Quốc Châu đã khẳng định, phương pháp Diện Chẩn không nhằm mục tiêu thay thế cho Tây Y hay Đông Y, bởi vì vẫn có rất nhiều bệnh cần phải chữa bằng các kỹ thuật tân tiến, bằng các y cụ và thuốc men phù hợp của Tây Y hay bằng những thang thuốc cổ truyền, bằng kỹ thuật Châm cứu, bấm huyệt và xoa bóp của Đông Y. Mà đây là một phương pháp hỗ trợ điều trị cho những căn bệnh thông thường. Hay nói đúng hơn đó là một liệu pháp phòng bệnh tích cực dựa trên nền tảng huy động những năng lực phòng vệ có sẵn nơi mỗi con người chúng ta, điều mà cả Tây Y lẫn Đông Y hoàn toàn tán thành và cũng đã tích cực vận dụng. 

Hiện nay, để phát triển cơ sở nghiên cứu hạ tầng cho Tây Y và Đông Y là điều không dễ dàng trong khi với chủ trương biến bệnh nhân thành người chữa bệnh cho chính mình và cho những người xung quanh, thì việc dựa vào sức dân chính là nền tảng phát triển tốt nhất mà phương pháp Diện Chẩn đã vận dụng, thì tại sao chúng ta lại cấm đoán và liệu rằng có thể cấm được không khi đó là nhu cầu quan trọng của mỗi người? Về quan điểm thì rõ ràng những nhà lãnh đạo có uy tín như Cố TBT Nguyễn Văn Linh, cố thủ tướng  Võ văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ ..vv. cũng đã có những đánh giá khách quan và đúng đắn về phương pháp này và điều quan trọng nhất là đã từ bao năm nay việc nghiên cứu đầu tư cho phương pháp này đều do cá nhân của ông Bùi Quốc Châu cùng những cộng sự và môn sinh của ông tự xoay sở trong khả năng của mình và điều rõ ràng là nếu có sự công nhận chính thức, thì nguồn thu từ những đoàn người khắp nơi trên thế giới kéo về Việt Nam để học tập và nghiên cứu phương pháp này, chắc chắn không phải là nhỏ và đó là một nguồn kinh phí không giới hạn !  Hơn nữa, khi vận dụng những biện pháp tự chữa bệnh cho bản thân và cho những người quen chung quanh những bệnh thông thường, thì chính người dân đã tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn cho việc khám chữa bệnh, giải quyết tích cực tình trạng quá tải hiện nay ở các bệnh viện đang là một vấn nạn chưa có giải pháp hữu hiệu.

Nhưng đây không phải là điều hữu ích nhất mà phương pháp này đem lại vì giá trị lớn nhất của nó chính là niềm tự hào dân tộc, điều mà Đảng và Nhà Nước ta đang tìm mọi biện pháp để xây dựng và cồ súy. Đây chính là thời điểm thuận lợi nhất để làm việc này, thay vì cứ phê phán và bắt bẻ những khiếm khuyết hay sai lầm nhỏ nhặt trong quá trình phát triển của phương pháp này. Tại sao không ?
Lê khanh